Dạy học sáng tạo – Blog Vật lý & Giáo dục

Dạy học sáng tạo là blog chuyên về Vật lý, nơi chia sẻ bài giảng, chuyên đề và phương pháp học tập phù hợp cả cho học sinh và giáo viên. Tại đây, bạn có thể tìm thấy hệ thống bài tập và đề thi từ cơ bản đến nâng cao, bao gồm cả đề HSG, đề Olympic và đề thi THPT Quốc gia, kèm lời giải chi tiết. Blog cung cấp nguồn tài liệu Vật lý phong phú để tải về, hỗ trợ việc học tập, ôn thi và bồi dưỡng học sinh giỏi. Ngoài ra, chúng tôi còn giới thiệu các ứng dụng công nghệ trong dạy học, giúp giáo viên và học sinh áp dụng hiệu quả vào giảng dạy và ôn luyện. Nội dung luôn được cập nhật bám sát chương trình GDPT 2018, đáp ứng nhu cầu ôn thi đại học và luyện thi trắc nghiệm. Mục tiêu của Dạy học sáng tạo là xây dựng một thư viện tài nguyên Vật lý đáng tin cậy, giúp học sinh học hiệu quả và đạt thành tích cao trong các kỳ thi.

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Khi hình học đắm đuối trong không gian quang học: Đỉnh cao của nghệ thuật tích hợp Toán - Lý

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, "dạy học tích hợp" đang trở thành một xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, ở cấp độ bồi dưỡng học sinh giỏi, sự tích hợp không chỉ dừng lại ở việc lắp ghép kiến thức cơ học, mà phải là sự hòa quyện sâu sắc về mặt tư duy bản chất. Bài viết "Khi hình học đắm đuối trong không gian quang học: Đỉnh cao của nghệ thuật tích hợp Toán - Lý" dưới đây là một minh chứng hoàn hảo cho đỉnh cao của tư duy tích hợp Toán - Lý. Từ một hiện tượng khúc xạ âm thanh quen thuộc trong Vật lý, các tác giả đã mượn lăng kính Quang học để tháo gỡ hàng loạt nút thắt phức tạp trong Hình học vi phân, Giải tích và thậm chí cả Hình học phi Euclid. Tài liệu này chắc chắn sẽ mang đến một góc nhìn liên môn đầy tính triết lý, giúp các em học sinh bứt phá rào cản tư duy và cung cấp một nguồn học liệu cực kỳ giá trị cho công tác chuyên môn.
Khi hình học đắm đuối trong không gian quang học: Đỉnh cao của nghệ thuật tích hợp Toán - Lý

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng một bài toán Olympic đơn giản, không phải toán học mà là vật lý. Những đường cong được nhắc đến trong bài toán này sẽ dẫn chúng ta đến bài toán Plateau về các mặt cực tiểu, đến hình dạng tối ưu của mái vòm trong kiến trúc và đến các mô hình của hình học phi Euclid. Ở mọi nơi đều xuất hiện cùng một phương pháp, được xây dựng từ hơn ba thế kỷ trước để giải quyết một bài toán hoàn toàn khác.

Âm thanh truyền theo đường cong nào?

Nhiều năm trước, một trong những tác giả của bài viết này đã tham gia kỳ thi học sinh giỏi vật lý thành phố. Dù không đạt giải nhất nhưng chuyến đi không hề uổng phí: có một bài toán rất đáng nhớ. Đó là bài toán số 2, nói về một tín hiệu âm thanh lan truyền trong nước, nơi tốc độ âm thanh phụ thuộc vào độ sâu. Các học sinh lớp mười chăm chỉ giải bài lúc đó không hề hay biết bài toán này có những mối liên hệ sâu sắc (theo mọi nghĩa) đến mức nào. Thậm chí chúng tôi không chắc bản thân tác giả bài toán có biết điều đó hay không. Từ bài toán này chỉ cách một bước chân là đến nguyên lý quang học nổi tiếng trong lý thuyết cực trị, vốn có vô số ứng dụng trong các ngành khoa học khác. Chúng ta sẽ cùng rút ra nguyên lý này và từ từ khám phá các ứng dụng khác nhau của nó, đôi khi dừng lại để điểm qua lịch sử và các hướng tổng quát hóa khả dĩ. Nhưng trước tiên, hãy xem qua nội dung bài toán (chúng tôi đã thay đổi cách diễn đạt một chút).

Bài toán

Biết rằng ở các vĩ độ phía Bắc, tốc độ âm thanh trong nước ở điều kiện chuẩn tăng theo độ sâu theo công thức $v(h) = 1450 + 0,0167h$. Hãy xác định độ sâu tối đa mà một tín hiệu âm thanh định hướng mạnh, phát ra dưới góc 15° so với mặt nước, có thể đạt tới. Định luật khúc xạ của sóng âm hoàn toàn tương tự như định luật khúc xạ ánh sáng.

Lời giải. Chia khối nước thành nhiều lớp ngang mỏng, bên trong mỗi lớp tốc độ được coi là không đổi. Khi đó, tín hiệu âm thanh sẽ có dạng đường gấp khúc, đoạn thứ $k$ của nó sẽ đi qua lớp thứ $k$ và cắt ranh giới lớp dưới một góc $\alpha_k$ (Hình 1). Viết định luật khúc xạ tại ranh giới các lớp, ta nhận được: $$ \frac{\cos\alpha_{k+1}}{\cos\alpha_k} = \frac{v_{k+1}}{v_k} $$ trong đó $v_k$ là tốc độ ở lớp thứ $k$.

Sự khúc xạ âm thanh qua các lớp nước
Hình 1: Đường đi của tín hiệu âm thanh qua các lớp nước có tốc độ truyền âm khác nhau.

Trong dạng quen thuộc, định luật khúc xạ (định luật Snell) được viết bằng sin của các góc so với pháp tuyến, và điều này tất nhiên là tương đương. Ta có thể viết lại nó dưới dạng: $$ \frac{\cos\alpha_{k+1}}{v_{k+1}} = \frac{\cos\alpha_k}{v_k} $$

Khi đó bằng quy nạp, ta kết luận rằng tỉ số $\frac{\cos\alpha_k}{v_k}$ đối với tất cả các lớp là như nhau. Ở độ sâu tối đa, ta có $\alpha_N = 0$. Ta thu được phương trình: $$ \frac{\cos\alpha_N}{v_N} = \frac{\cos\alpha_1}{v_1} $$ trong đó $v_1 = 1450$, $\alpha_1 = 15^\circ$ và $v_N = 1450 + 0,0167h$. Thay các đại lượng đã biết vào, ta tìm được đáp số: $h = \mathbf{3063 \text{ m}}$.

Công thức được đưa ra trong điều kiện bài toán là công thức Wilson đã được đơn giản hóa một chút. Nó đúng ở nhiệt độ thấp và điều kiện chuẩn đối với độ mặn bình thường của nước. Khoảng cách 3 km không nên làm chúng ta ngạc nhiên. Trong nước, âm thanh có cường độ trung bình có thể truyền đi khoảng 15–20 km, còn các tín hiệu mạnh thì hơn 100 km. Tín hiệu không chạm tới đáy không phải vì nó bị tắt dần, mà vì nó đi theo đường cong.

Điều chúng ta quan tâm không phải là độ sâu tối đa, mà là hình dạng của quỹ đạo và (điều đặc biệt quan trọng!) thời gian nó đi qua quỹ đạo đó. Nếu lấy hai điểm bất kỳ $A$ và $B$ trên quỹ đạo, thì cung giữa chúng sẽ là đường cong mất ít thời gian nhất để di chuyển từ $A$ đến $B$ với tốc độ $v(h)$, được tính theo công thức Wilson. Chúng ta biết điều này từ quang học: ánh sáng (trong trường hợp này là âm thanh) luôn đi theo con đường có thời gian ngắn nhất, và con đường này tuân theo định luật khúc xạ. Chúng ta sẽ sử dụng định luật này.

Phương pháp quang học

Như vậy, một tín hiệu âm thanh định hướng sẽ đi theo một quỹ đạo đảm bảo thời gian nhỏ nhất. Vậy nếu tốc độ âm thanh ở một độ sâu không được tính bằng công thức Wilson mà bằng một công thức khác thì sao? Kết quả sẽ khác, nhưng nguyên tắc giải quyết vẫn như cũ. Bằng cách biểu diễn môi trường như một tập hợp các lớp mỏng, chúng ta thu được tỉ số giữa cosin của góc nghiêng quỹ đạo và tốc độ âm thanh là một hằng số trên suốt quãng đường. Do đó, tỉ số này là một bất biến của quỹ đạo. Thay các công thức khác nhau của tốc độ âm thanh vào, chúng ta sẽ nhận được lời giải cho nhiều bài toán cực trị, vốn không còn liên quan gì đến quang học nữa.

Chúng ta sẽ chuyển từ tia âm thanh sang các tia sáng quen thuộc hơn và xét một mặt phẳng tọa độ tiêu chuẩn. Mặt phẳng được làm từ một môi trường trong suốt, chiết suất của môi trường này chỉ phụ thuộc vào khoảng cách tới trục $x$. Như vậy, tốc độ ánh sáng tại một điểm tùy ý $(x; y)$ bằng $v(y)$, hàm này đã được cho trước. Chúng ta giả định nó có khả năng vi phân, tức là chiết suất thay đổi một cách từ từ. Giả sử một chất điểm muốn đi từ điểm $A$ đã cho đến điểm $B$ trong thời gian ngắn nhất, với tốc độ tại mọi thời điểm bằng giá trị của hàm $v(y)$. Như chúng ta đã biết, nó phải di chuyển dọc theo quỹ đạo của một tia sáng, và quỹ đạo này có thể được mô tả bằng bất biến $\frac{\cos\alpha}{v(y)} = \text{const}$, trong đó $\alpha$ là góc mà quỹ đạo cắt đường thẳng nằm ngang tại điểm $(x; y)$ (Hình 2). Góc này dĩ nhiên phụ thuộc vào vị trí điểm, và viết chính xác hơn thì phải là $\alpha(x)$. Chúng ta sẽ giả định rằng quỹ đạo là đồ thị của một hàm số nào đó $y = f(x)$. Khi đó $\alpha = \alpha(x)$ là góc mà tiếp tuyến của đồ thị tại điểm $(x; f(x))$ tạo với trục $x$.

Đồ thị hàm số y = f(x) và tiếp tuyến
Hình 2: Đồ thị hàm số $y = f(x)$ và góc nghiêng $\alpha$ của tiếp tuyến với trục $x$.

Trong số tất cả các hàm $f(x)$ có đồ thị nối hai điểm cho trước trên mặt phẳng, chúng ta phải tìm hàm sao cho chuyển động dọc theo đồ thị đó mất ít thời gian nhất.

Định lý 1. Hàm số $y = f(x)$, tương ứng với thời gian chuyển động nhỏ nhất dọc theo đồ thị với tốc độ $v(y)$, có tính chất: $$ \frac{\cos\alpha}{v(y)} = \text{const}. $$

Chứng minh. Nếu hàm $f$ là đơn điệu, thì tại mỗi điểm trên đồ thị của nó định luật khúc xạ ánh sáng phải được thỏa mãn, điều này, như chúng ta đã biết, dẫn đến công thức trên. Trong trường hợp tổng quát, ta chia đồ thị thành các khoảng đơn điệu. Tỉ số $\frac{\cos\alpha}{v(y)}$ thay đổi liên tục và không đổi trên mỗi khoảng, nghĩa là nó không đổi trên toàn bộ quãng đường. Định lý đã được chứng minh.

Trước khi chuyển sang các bài toán cực trị, ta cần làm rõ các quy tắc. Điều này rất quan trọng! Tính hằng số của tỉ số giữa cosin và tốc độ chỉ là điều kiện cần của tính tối ưu, chứ không phải là điều kiện đủ. Chúng ta sẽ không đi tính toán tất cả các đường cong thỏa mãn điều kiện này, và sẽ không chứng minh tính tối ưu. Điều đó sẽ đưa chúng ta quá sâu vào phép tính biến phân. Có thể có một vài đường cong như vậy, và chúng ta (không cần chứng minh) sẽ chọn đường cong đạt được thời gian nhỏ nhất. Cuối cùng, chúng ta sẽ loại trừ trường hợp tầm thường $f(x) = \text{const}$, khi đồ thị là một đường thẳng nằm ngang. Trong trường hợp này $\cos\alpha = 1$ và tốc độ $v(y)$ là không đổi, vì tung độ $y$ không đổi. Do đó, tính chất bất biến được thỏa mãn. Tuy nhiên, trong hầu hết các bài toán, trường hợp ngoại lệ này không cho giá trị nhỏ nhất và không được xem xét. Như vậy, chúng ta sẽ luôn coi rằng đường cong không chứa các đoạn nằm ngang.

Như thường lệ trong giải tích, chúng ta sẽ nói rằng số khác không $a$ "gần bằng" số $b$, nếu hiệu của chúng nhỏ hơn rất nhiều so với $a$. Tương tự đối với các đại lượng biến thiên $a$ và $b$: nếu cả hai đều tiến tới không, thì "$a$ gần bằng $b$" có nghĩa là tỉ số $(a-b)/a$ tiến tới không.

Các quy tắc đã được thiết lập. Chúng ta bắt đầu!

Lại bàn về đường cong đoản thời (Brachistochrone)

Câu chuyện về đường cong dốc xuống nhanh nhất đã được mô tả chi tiết trong các bài báo và sách. Nhiều người coi nó là một trong những bước ngoặt trong lịch sử của toàn bộ toán học. Chính từ bài toán về đường cong đoản thời mà phép tính biến phân hiện đại ra đời. Nó đã chứng minh sức mạnh của giải tích toán học, công cụ lúc bấy giờ mới bắt đầu khẳng định vị thế của mình. Tạp chí "Kvant" cũng đã từng đề cập đến chủ đề này [1]. Bây giờ chúng ta cũng không thể bỏ qua nó, bởi vì chính khi đó, Johann Bernoulli (1667-1748) — người đã phát hiện ra định luật dòng chảy của chất lỏng không nén được — lần đầu tiên áp dụng phương pháp quang học. Ông đã áp dụng nó một cách trực tiếp: trong trường hợp của ông, đại lượng $v(y)$ chính xác là vận tốc, mặc dù không phải của ánh sáng, mà là của một chất điểm. Sau đó chúng ta sẽ thấy rằng có thể có một mức độ trừu tượng cao hơn trong các bài toán, không còn liên quan gì đến chuyển động nữa.

Vào tháng 6 năm 1696, Johann Bernoulli đã công bố trên tạp chí «Acta Eruditorum» một ghi chú với tiêu đề hấp dẫn: "Một bài toán mới, mời các nhà toán học cùng giải".

Bài toán của Bernoulli

Cho hai điểm A và B trong mặt phẳng thẳng đứng. Dưới tác dụng của trọng lực, một chất điểm phải chuyển động theo đường cong nào để khi bắt đầu chuyển động từ A, nó đạt đến B trong thời gian ngắn nhất?

Ngay từ thời Galileo, người ta đã hiểu rằng đường thẳng, mặc dù là con đường ngắn nhất, nhưng không phải là đáp án. Bằng thực nghiệm, ông đã xác định được rằng quỹ đạo theo cung tròn sẽ nhanh hơn. Không rõ liệu Galileo có giả định rằng chính cung tròn sẽ cho sự dốc xuống nhanh nhất hay không. J. Bernoulli đã tìm ra đường cong dốc xuống nhanh nhất và che giấu đáp án dưới cái tên "brachistochrone", tiếng Hy Lạp nghĩa là "thời gian ngắn nhất". Bài toán nhận được năm lời giải, tất cả đều đúng. Một của chính tác giả, những lời giải khác đến từ Leibniz, L'Hôpital, từ người anh trai Jacob Bernoulli, và bức thư cuối cùng gửi đến là ẩn danh. Tuy nhiên, qua văn phong hoàn hảo của nó, người ta đã ngay lập tức nhận ra tác giả là Isaac Newton, "giống như nhận ra con sư tử qua móng vuốt của nó".

Lời giải của Bernoulli được mọi người yêu thích vì sự thanh lịch và bất ngờ nhất. Ông đề nghị thay thế chuyển động của điểm bằng sự lan truyền của tia sáng trong một môi trường không đồng nhất. Trong đó, chiết suất của môi trường được chọn sao cho tương ứng với tốc độ của điểm ở độ cao đó. Vận tốc này dễ dàng tính được từ định luật bảo toàn năng lượng. Bernoulli đã không viết rõ ràng bất biến $\frac{\cos\alpha}{v(y)}$, mà tìm ra lời giải từ các suy luận hình học. Đáp án, ẩn dưới bút danh "brachistochrone", hóa ra là cung của đường cycloid — đường cong được vạch ra bởi một điểm trên một đường tròn lăn không trượt trên một đường thẳng. Hơn nữa, đường thẳng nằm ngang này đi qua điểm A. Bất kỳ điểm B nào nằm dưới A đều có thể được nối với A bằng một cung của đường cycloid như vậy, và chỉ bằng một cách duy nhất. Trên Hình 3, các điểm A và B nằm gần như ở cùng một độ cao. Để đi từ A đến B theo đường cycloid, trước tiên cần phải lặn xuống sâu xuống một "hố" sâu, rồi sau đó đi lên điểm B. Hóa ra con đường có vẻ nghịch lý này lại cho thời gian ngắn nhất!

Đồ thị hàm số y = f(x) và tiếp tuyến
Hình 3: Quỹ đạo đi từ A đến B có dạng một cung lồi xuống dưới.

Phương pháp quang học ở đây tỏ ra hoàn toàn tự nhiên. Vận tốc ở độ cao $y$ được tính từ định luật bảo toàn năng lượng: $$ \frac{mv^2}{2} + mgy = \text{const}. $$ Chúng ta đã đặt gốc tọa độ tại điểm A, vì vậy độ cao $y$ sẽ nhận giá trị âm. Hằng số bằng không, bởi vì chúng ta xuất phát từ A với vận tốc ban đầu bằng không. Từ đó suy ra $v(y) = \sqrt{-2gy}$. Bây giờ áp dụng Định lý 1. Vì chúng ta đã biết câu trả lời, chúng ta sẽ chỉ chứng minh rằng đường cycloid thỏa mãn điều kiện bất biến: $$ \frac{\cos\alpha}{v(y)} = \text{const}. $$

Lời giải bài toán Bernoulli. Một đường tròn bán kính $R$ lăn dọc theo trục $x$, tiếp xúc với trục này từ bên dưới (Hình 4). Một điểm M bất kỳ trên đường tròn sẽ vạch ra một cung cycloid từ điểm A đến B. Vận tốc $v$ của nó tại mỗi thời điểm luôn hướng theo tiếp tuyến của đường cycloid. Gọi C là tâm đường tròn, và $u$ là vận tốc mà tâm này di chuyển (chữ cái $v$ đã được sử dụng). Chú ý rằng các vận tốc $u$ và $v$ không cố định, tại mỗi điểm của cycloid chúng có giá trị riêng. Chúng ta chỉ biết rằng $v(y) = \sqrt{-2gy}$. Bây giờ chúng ta sẽ liên kết các đại lượng này bằng một phương trình.

Sự tạo thành đường cycloid
Hình 4: Một điểm M trên đường tròn lăn không trượt dọc theo trục Ox tạo ra quỹ đạo cycloid.

Chuyển động là lăn không trượt, do đó điểm M chuyển động với cùng tốc độ $u$ tương đối so với tâm C, và vận tốc này hướng theo tiếp tuyến của đường tròn. Theo nguyên lý cộng vận tốc, vận tốc tổng hợp của điểm M bằng tổng của hai vận tốc này. Tổng này được tìm theo quy tắc hình bình hành, trong trường hợp này là một hình thoi. Vận tốc $\vec{v}$ hướng dọc theo đường chéo MF của hình thoi, do đó $\alpha = \angle DMF$ là góc giữa vận tốc và trục $x$. Đường chéo của hình thoi cũng là đường phân giác của nó, nên $\angle DME = 2\alpha$. Cuối cùng, ME là tiếp tuyến của đường tròn, do đó $\angle EMC = 90^\circ$. Tung độ của điểm M bằng: $$ y = -R(1 + \sin(90^\circ - 2\alpha)) = -2R\cos^2\alpha, $$ từ đó $$ v(y) = \sqrt{-2gy} = 2\sqrt{gR}\cos\alpha. $$

Như vậy, $$ \frac{\cos\alpha}{v(y)} = \frac{1}{2\sqrt{gR}} = \text{const}, $$ suy ra đường cycloid thỏa mãn điều kiện của Định lý 1 và bài toán đã được giải quyết.

Trong bài toán brachistochrone, chúng ta tìm kiếm thời gian nhỏ nhất. Bây giờ chúng ta sẽ tiến thêm một bước và đi tối thiểu hóa các đại lượng khác — diện tích, thế năng, khoảng cách. Một cách đáng ngạc nhiên, phương pháp quang học lại xuất hiện ở đó.

Bài toán Plateau

Chúng ta sẽ áp dụng phương pháp quang học để tối thiểu hóa diện tích. Điều này sẽ được thực hiện nhờ vào việc lựa chọn một cách đặc biệt hàm vận tốc $v(y)$.

Hãy xem xét bài toán sau. Trong không gian cho một tập hợp bị chặn $V$; yêu cầu là bao bọc nó bằng một mặt có diện tích nhỏ nhất. Nói cách khác, trong số tất cả các mặt kín chứa $V$, cần tìm mặt có diện tích cực tiểu. Chúng ta sẽ ký hiệu mặt này là $\Sigma$, và dùng cùng ký hiệu đó cho diện tích của nó. Điều kiện cho phép mặt này có thể không liên thông, tức là bao gồm nhiều mảnh rời rạc.

Nếu tập hợp $V$ bao gồm một số hữu hạn các điểm, thì nó có thể được bao phủ bằng một mặt bất kỳ một diện tích nhỏ tùy ý nào. Trong trường hợp này, chúng ta sẽ viết $S = 0$. Bao bọc mỗi điểm bằng một hình cầu bán kính $r$ và sau đó lấy $r$ nhỏ tùy ý. Nếu $V$ là một đường tròn, thì lại có $S = 0$, vì đường tròn có thể được bao bọc trong một hình xuyến mỏng. Và nói chung, nếu $V$ là một đường cong liên tục có độ dài hữu hạn, thì $S = 0$. Mặt khác, nếu $V$ là một tập lồi, thì nghiệm của bài toán Plateau sẽ là bề mặt của chính tập hợp đó, tức là $\Sigma$ là ranh giới của $V$. Bạn có thể tự mình thử chứng minh điều này. Từ đây suy ra, ví dụ, nếu $V$ là một hình tròn, thì mặt cực tiểu $\Sigma$ bao gồm hai hình tròn dán vào nhau dọc theo đường tròn biên.

Nhà toán học người Bỉ Joseph Plateau (1801-1883), người đã nghiên cứu bài toán về các mặt cực tiểu, đã đưa ra một diễn giải trực quan như sau. Nếu nhúng tập hợp $V$ vào dung dịch xà phòng và rút ra, thì màng xà phòng sẽ có hình dạng của mặt $\Sigma$. Điều này được giải thích là do màng phim có xu hướng chiếm vị trí mà thế năng của nó là nhỏ nhất, và điều này xảy ra khi diện tích là nhỏ nhất.

Một trong những hình đơn giản mà đối với nó bài toán Plateau có ý nghĩa là "quả tạ", gồm hai hình tròn bằng nhau và một đoạn thẳng nối tâm của chúng và vuông góc với các mặt phẳng chứa hai hình tròn. Đoạn nối có thể bị bỏ đi, chỉ để lại hai hình tròn, đáp án của bài toán sẽ không thay đổi. Theo trực giác, rõ ràng (xin bỏ qua phần chứng minh) mặt $\Sigma$ phải bao gồm hai hình tròn này và mặt bên nối chúng (Hình 5). Chúng ta sẽ tìm mặt bên có diện tích nhỏ nhất này (ký hiệu nó là $\Sigma'$). Để làm điều này, chúng ta sẽ biểu diễn diện tích bề mặt như thời gian chuyển động dọc theo một đường cong nào đó, sau đó áp dụng phương pháp quang học.

Mặt cực tiểu nối hai hình tròn
Hình 5: Mặt bên có diện tích nhỏ nhất nối hai đường tròn đồng trục.

Mô tả mặt cực tiểu

Từ lý lẽ đối xứng, có vẻ như mặt có diện tích nhỏ nhất phải là một mặt tròn xoay. Điều này thực sự đúng, mặc dù việc chứng minh chặt chẽ cực kỳ phức tạp. Như vậy, mặt này được tạo thành bằng cách quay đồ thị hàm số $y = f(x)$ quanh trục $x$. Hàm số được xác định trên đoạn $[-a; a]$ nối tâm của hai hình tròn, với $f(-a) = f(a) = R$ (bán kính của các hình tròn). Hãy thay thế đồ thị này bằng một đường gấp khúc với các đoạn ngắn và các đỉnh nằm trên đồ thị. Khi đó, mặt tạo thành do sự quay của đường gấp khúc này có diện tích gần bằng với mặt của chúng ta. Nó bao gồm các vành hẹp, mỗi vành là mặt bên của một hình nón cụt. Hãy lấy một vành như vậy. Nó được tạo thành bằng cách quay hình thang vuông ABCD (Hình 6) quanh cạnh bên AB của nó. Gọi độ dài đường trung bình của nó là $m$. Khi đó $m \approx f(x)$, với $x$ là trung điểm của đoạn AB. Đồng thời đặt $CD = r$. Hãy cắt vành dọc theo đoạn CD và trải rộng ra mặt phẳng. Có thể xảy ra hai trường hợp.

Vành hẹp cắt từ mặt cực tiểu
Hình 6: Một vành hẹp được tạo thành do quay đoạn $CD$.

1) Đường thẳng CD song song với trục $x$. Khi đó chúng ta sẽ thu được một hình chữ nhật với các cạnh là $r$ và $2\pi m$ (Hình 7, bên trái). Như vậy, diện tích của vành bằng $2\pi mr$.

2) Đường thẳng CD không song song với trục $x$ và cắt nó tại một điểm $E$ nào đó. Khi đó khi trải phẳng ra, chúng ta sẽ nhận được một vành khuyên của một hình quạt tròn với tâm $E$ và góc mở $\gamma$ nào đó (Hình 7, bên phải). Ký hiệu $d$ là khoảng cách từ $E$ đến trung điểm của $CD$. Lấy diện tích của hình quạt tròn lớn trừ đi diện tích của hình quạt tròn nhỏ, ta được: $$ \frac{\gamma}{2}\left(d + \frac{r}{2}\right)^2 - \frac{\gamma}{2}\left(d - \frac{r}{2}\right)^2 = \gamma dr. $$

Khai triển mặt vành
Hình 7: Trải phẳng các vành đai thành hình chữ nhật (trái) và hình quạt khuyên (phải).

Chú thích 1: Không thể chỉ dựa vào trực giác ở đây. Ví dụ, trong bài toán khí động học của Newton, mặt có lực cản nhỏ nhất không phải là mặt đối xứng (xem [2]).

Chú ý rằng $\gamma d$ chính là độ dài cung tròn có tâm $E$ và bán kính $d$. Cung này thu được (sau khi trải phẳng vành nón cụt) từ đường tròn sinh ra do quay trung điểm của đoạn $CD$ quanh trục $x$. Độ dài của đường tròn này là $2\pi m$, do đó $\gamma d = 2\pi m$. Vậy, trong trường hợp này, diện tích của vành cũng bằng $2\pi mr$.

Ta thấy rằng diện tích của một vành trong cả hai trường hợp đều bằng $2\pi mr$. Bây giờ thực hiện bước quan trọng nhất: tìm vận tốc $v$ sao cho thời gian đi qua đoạn $CD$ có giá trị số bằng diện tích của vành. Rất đơn giản: diện tích bằng $2\pi mr$, còn thời gian thì bằng $\frac{r}{v}$. Như vậy, $\frac{r}{v} = 2\pi mr$, từ đó suy ra $v = \frac{1}{2\pi m}$.

Vậy, một chất điểm chuyển động với vận tốc $v = \frac{1}{2\pi m}$ sẽ đi qua đoạn gấp khúc $CD$ trong thời gian có giá trị số bằng diện tích của vành. Do đó, thời gian cần thiết để đi qua toàn bộ đường gấp khúc bằng tổng diện tích của các vành, tức là xấp xỉ bằng $\Sigma'$. Vận tốc trên mỗi đoạn gấp khúc bằng $\frac{1}{2\pi m} \approx \frac{1}{2\pi f(x)} = \frac{1}{2\pi y(x)}$.

Như vậy, chúng ta đã thu được thành quả chính — hàm vận tốc $v(y)$. Diện tích của mặt tròn xoay tạo bởi đồ thị hàm số $f(x)$ có giá trị số bằng thời gian cần thiết để đi dọc theo đồ thị này với vận tốc thay đổi $v(y) = \frac{1}{2\pi y}$. Áp dụng Định lý 1 và lưu ý rằng trong trường hợp này: $$ \frac{\cos\alpha}{v(y)} = 2\pi y \cos\alpha, $$ chúng ta thu được mô tả về mặt có diện tích nhỏ nhất.

Định lý 2. Hàm số $y = f(x)$ sinh ra mặt tròn xoay cực tiểu chứa hình "quả tạ" có tính chất: $$ y \cos\alpha = \text{const}. $$

Nói cách khác, cosin của góc nghiêng $\alpha(x)$ của tiếp tuyến với đồ thị tại điểm $(x; y)$ so với trục $x$ tỷ lệ nghịch với $y$. Đường cong có tính chất này gọi là dây xích (catenoid), được xác định bởi công thức $y = \cosh x$, trong đó $\cosh x = \frac{1}{2}(e^x + e^{-x})$ là cosin hyperbolic. Đồ thị của hàm số này (Hình 8) gợi nhớ đến đường parabol, vì khi $x$ nhỏ, hàm $\cosh x$ xấp xỉ bằng $1 + \frac{x^2}{2}$, nhưng sau đó nó tăng nhanh hơn đáng kể. Nếu người đọc quen thuộc với đạo hàm và tính chất của hàm số mũ $e^x$, họ có thể dễ dàng chứng minh đường dây xích có tính chất $y \cos\alpha = \text{const}$. Nếu không, xin hãy tin lời chúng tôi.

Đồ thị hàm Catenoid so với Parabol
Hình 8: Đồ thị hàm số $y = \cosh x$ và $y = 1 + \frac{x^2}{2}$.

Xây dựng mặt cực tiểu

Tìm ra công thức cho đường cong tối ưu là chưa đủ, còn phải để đường cong này đi qua các điểm đã cho $(-a; R)$ và $(a; R)$. Có thể tịnh tiến đường dây xích theo véc-tơ $(c; b)$ và thực hiện phép vị tự với hệ số $k$: $$ f(x) = b + k \cosh\left(\frac{x-c}{k}\right). $$

Trong trường hợp của chúng ta, $c, b$ dễ dàng tìm được nhờ tính đối xứng: $b = c = 0$, nhưng hệ số $k$ cần phải tính toán. Để làm điều này, hãy tìm điểm $D$ là giao điểm của đồ thị hàm số $y = \cosh x$ với đường thẳng $y = \frac{R}{a}x$. Giả sử phép vị tự với hệ số $k$ biến điểm $D$ thành điểm $(a; R)$. Khi đó đường dây xích cần tìm được xác định bởi phương trình $y = k \cosh\left(\frac{x}{k}\right)$. Bằng cách đó, chúng ta đã tìm ra nghiệm của bài toán Plateau cho hình "quả tạ".

Giao điểm của Catenoid và đường thẳng
Hình 9: Trường hợp đường thẳng $y = \frac{R}{a}x$ không cắt đồ thị $y = \cosh x$.

Nếu đường thẳng $y = \frac{R}{a}x$ tạo một góc nhỏ với trục $x$, thì nó sẽ không cắt đồ thị dây xích (Hình 9). Điều này có nghĩa là không có nghiệm chăng? Mặt cực tiểu không tồn tại? Nhưng "quả tạ" vẫn có thể được nhúng vào dung dịch xà phòng và rút ra, màng phim phải mang một hình dạng nào đó chứ. Bạn hãy thử tự tìm hiểu xem (câu trả lời ở cuối bài viết).

Chưa dừng lại ở đó. Hãy xem xét các trường hợp khác, ở đó mọi thứ cũng không hoàn toàn ổn. Trên Hình 10 bên trái, đường thẳng cắt đường dây xích tại hai điểm $D_1$ và $D_2$. Tương ứng, sau khi thực hiện phép vị tự với các hệ số $k_1$ và $k_2$ khác nhau, ta sẽ nhận được các cung của hai đường dây xích khác nhau cùng nối hai điểm (Hình 10 bên phải). Cung nào trong số đó cho ra nghiệm? Hay là cả hai? Khả năng thứ hai rất khó xảy ra, vì màng xà phòng chỉ có thể mang một hình dạng. Hóa ra, chỉ một trong hai cung là tối ưu — cung ngắn hơn ở phía trên. Lưu ý rằng về mặt hình học, hoàn toàn không hiển nhiên rằng cung ngắn hơn sẽ tạo ra diện tích mặt tròn xoay nhỏ hơn. Diện tích này không chỉ phụ thuộc vào chiều dài cung, mà còn phụ thuộc vào bán kính quay $y(x)$, và bán kính này lại nhỏ hơn ở chính cung dài hơn.

Như chúng ta đã đề cập, Định lý 1 chỉ cung cấp điều kiện cần của tính tối ưu. Có thể xảy ra trường hợp có nhiều đường cong thỏa mãn điều kiện $\frac{\cos\alpha}{v} = \text{const}$, nhưng chỉ có một đường trong số đó cho thời gian nhỏ nhất.

Các trường hợp giao điểm của Catenoid
Hình 10: Đường thẳng cắt Catenoid tại hai điểm (trái) tạo ra hai đường cong Catenoid khác nhau nối cùng hai điểm (phải).

Dây xích treo

Đường catenoid còn được gọi là đường dây xích (catena trong tiếng Latin nghĩa là "dây xích"). Đây chính là hình dáng của một sợi dây xích đồng chất được treo giữa hai đầu cố định. Vấn đề là phương trình của sợi dây xích cũng là nghiệm của chính bài toán cực tiểu Plateau và được tính toán bằng phương pháp quang học thông qua cùng một bất biến đó. Tại sao lại như vậy? Chúng ta sẽ tìm hiểu ngay bây giờ. Hãy thiết lập phương trình cho sợi dây xích treo.

Sợi dây xích treo sẽ ở trạng thái mà thế năng của nó là nhỏ nhất. Giả sử hình dáng của dây xích được xác định bởi đồ thị hàm số $y = f(x)$ đi qua hai điểm đã cho. Nhiệm vụ của chúng ta là cực tiểu hóa thế năng $E(f)$. Cần lưu ý rằng chúng ta không tìm cực tiểu trong số tất cả các đường cong, mà chỉ trong số những đường có độ dài cho trước, bởi vì chiều dài của dây xích là cố định. Ở đây, khác với các ví dụ trước, chúng ta đang giải quyết một bài toán có điều kiện ràng buộc: cực tiểu hóa năng lượng $E$ với điều kiện độ dài $l$ của đồ thị bằng một số cho trước. Đối với các bài toán như vậy, người ta áp dụng phương pháp nhân tử Lagrange. Thay vì tìm cực tiểu của đại lượng $E$, chúng ta cộng thêm vào đó đại lượng $l$ nhân với một số $\lambda$ nào đó, và sau đó tìm cực tiểu của đại lượng kết quả $L = E + \lambda l$, cứ như thể không có điều kiện ràng buộc nào. Số $\lambda$ được gọi là nhân tử Lagrange, còn đại lượng $L$ là hàm Lagrange (Lagrangian). Cả hai đều được đặt theo chữ cái đầu trong họ của nhà toán học người Pháp gốc Ý Joseph-Louis Lagrange (1736-1813).

Như vậy, thay vì giải bài toán có điều kiện ràng buộc, chúng ta tạo ra một hàm mới, hàm Lagrange, và tìm cực tiểu của nó giống như trong bài toán không có điều kiện ràng buộc. Nói chung, chúng ta chuyển sang một bài toán khác. Nhưng, theo định lý Lagrange, tồn tại ít nhất một giá trị của nhân tử $\lambda$ sao cho hai bài toán này có cùng một nghiệm, tức là cực tiểu đạt được trên cùng một hàm $f$. Toàn bộ khó khăn nằm ở chỗ chúng ta ban đầu không biết giá trị của $\lambda$, chúng ta chỉ biết rằng tồn tại một con số như vậy.

Như vậy, tồn tại một nhân tử $\lambda$ sao cho cực tiểu của hàm Lagrange $E + \lambda l$ đạt được trên cùng một hàm giống như cực tiểu của đại lượng $E$ với điều kiện là đại lượng $l$ cố định. Chúng ta sẽ đi tìm hàm $f$ này. Hãy thay thế đồ thị của $f$ bằng một đường gấp khúc và xét một đoạn $CD$ có độ dài $r$ (Hình 11).

Đoạn thẳng CD trên đồ thị
Hình 11: Một đoạn nhỏ $CD$ có độ dài $r$ trên đường dây xích treo.

Giả sử $\rho$ là mật độ khối lượng dài của vật liệu làm dây xích, khi đó thế năng của đoạn này bằng khối lượng $\rho r$ của nó nhân với gia tốc rơi tự do $g$ và khoảng cách $m$ từ trung điểm của đoạn đến trục $x$. Như vậy, $E_{CD} = \rho rgm$. Do đó, phần giá trị của hàm Lagrange $L$ tập trung trên đoạn này bằng $L_{CD} = \rho rgm + \lambda r$. Số này bằng thời gian đi qua đoạn $CD$ với vận tốc: $$ v = \frac{r}{\rho gmr + \lambda r} = \frac{1}{\rho g} \cdot \frac{1}{m + \lambda/\rho g} \approx \frac{1}{\rho g} \cdot \frac{1}{f(x) + \lambda/\rho g}, $$ trong đó $x$ là hoành độ của trung điểm đoạn $CD$. Và bây giờ chúng ta thực hiện một thủ thuật sau: hạ trục $x$ xuống một khoảng cách $\frac{\lambda}{\rho g}$. Chúng ta sẽ thu được một hệ tọa độ mới, trong đó hoành độ vẫn giữ nguyên, còn tung độ của mỗi điểm tăng thêm $\frac{\lambda}{\rho g}$.

Trong hệ tọa độ mới, $y = f(x) + \frac{\lambda}{\rho g}$, do đó $v(y) = \frac{1}{\rho gy}$. Như vậy, vận tốc ở độ cao $y$ tỷ lệ nghịch với $y$. Chúng ta lại gặp tình huống giống hệt như trong bài toán Plateau, chỉ khác là hệ số $2\pi$ được thay bằng $\rho g$. Do đó, nghiệm cũng sẽ giống nhau: hàm $f$ là hàm cosin hyperbolic.

Định lý 3. Một sợi dây xích đồng chất được treo giữa hai đầu cố định có hình dạng là một đường catenoid.

Hóa ra chúng ta có thể nhìn thấy đồ thị của hàm cosin hyperbolic mà không cần dùng đến máy tính. Để làm điều đó, chỉ cần cầm một sợi dây xích ở hai đầu.

"As hangs the chain, so stands the arch"

Tác giả của câu nói này là Robert Hooke (1635-1703), một nhà khoa học và nhà tự nhiên học người Anh. Trong vật lý, ông không chỉ là người tìm ra định luật biến dạng đàn hồi, mà dường như còn là người phát biểu định luật vạn vật hấp dẫn. Trong sinh học, ông đã đưa ra thuật ngữ "tế bào" (cell). Và vào năm 1675, ông đã đóng góp cho ngành kiến trúc khi khám phá ra rằng chính đường catenoid mô tả hình dáng của một mái vòm kiên cố nhất. Và điều này có thể được chứng minh bằng cách sử dụng chính bất biến quang học đó! Đầu tiên, chúng ta sẽ cần phải "lật ngược" đồ thị lại.

Mái vòm như thế nào được coi là kiên cố nhất? Việc hình thức hóa câu hỏi này ở mức độ kiến thức phổ thông là không hề đơn giản. Chúng ta sẽ dựa vào trực giác: mái vòm nào phân bố tải trọng một cách đồng đều thì sẽ kiên cố hơn.

Theo Định lý 2, đồ thị của đường catenoid $y = \cosh x$ có tính chất $y \cos\alpha = \text{const}$. Hãy lấy đối xứng gương đồ thị qua trục $x$ (Hình 12). Tại một điểm tùy ý $M = (x; y)$ của đồ thị hàm số thu được hãy vẽ tiếp tuyến và đường vuông góc với nó (pháp tuyến ngoài). Góc giữa pháp tuyến và đường vuông góc KM với trục $x$ bằng góc giữa tiếp tuyến và trục $x$, tức là bằng $\alpha$. Từ đó: $$ KM \cos\alpha = |y| \cos\alpha = \text{const}. $$ Điều này có nghĩa là độ dài hình chiếu của đoạn thẳng đứng KM lên pháp tuyến ngoài tại điểm M là như nhau đối với tất cả các điểm trên đồ thị.

Đồ thị hàm Catenoid phản xạ
Hình 12: Đồ thị hàm số $y = -\cosh x$ được tạo ra bằng cách phản xạ gương qua trục $x$.

Hãy tưởng tượng rằng toàn bộ không gian phía trên đồ thị, cho đến tận trục $x$, được đổ đầy bê tông. Một lớp bê tông thẳng đứng nằm dọc theo đoạn KM tác dụng lên điểm M một lực tỷ lệ thuận với độ dài $KM = |y|$. Hình chiếu của lực này lên pháp tuyến ngoài chính là thành phần pháp tuyến của áp lực. Như vậy, thành phần pháp tuyến của áp lực là như nhau tại mọi điểm trên đồ thị của hàm số $y = -\cosh x$.

Do đó, một mái vòm có hình dạng đường catenoid, hay mái vòm dây xích (catenary arch), phân bố đều áp lực dọc theo toàn bộ chiều dài. Vì vậy, một mái vòm như vậy là kiên cố nhất. Và việc thiết kế hình dáng của mái vòm kiên cố nhất rất đơn giản — chỉ cần treo một sợi dây xích bằng hai đầu rồi lật ngược hình ảnh lại. Các kiến trúc sư ở mọi thời đại đều sử dụng phương pháp này. Chẳng hạn, Hình 13 vẽ Vòm Khosrow nổi tiếng, phần trung tâm của Bạch cung ở Ctesiphon (thế kỷ 6, cung điện của các Shah triều đại Sasan, Iraq), còn Hình 14 là Casa Milà, một tòa nhà dân cư ở Barcelona, được xây dựng từ năm 1906-1910 bởi kiến trúc sư nổi tiếng người Tây Ban Nha Antoni Gaudí.

Vòm Khosrow ở Ctesiphon
Hình 13: Vòm Khosrow (Taq-i Kisra) với cấu trúc vòm dây xích.

Mái vòm dây xích trong kiến trúc Casa Milà
Hình 14: Kiến trúc vòm dây xích tại Casa Milà của Antoni Gaudí.

Mô hình Poincaré của mặt phẳng Lobachevsky

Bây giờ chúng ta sẽ phải giải quyết bài toán ngược: tìm hàm vận tốc $v(y)$ nếu quỹ đạo tối ưu đã biết trước. Bằng cách đó, chúng ta sẽ hiểu rõ khái niệm chiều dài trong một trong các mô hình của hình học phi Euclid.

Hình học phi Euclid ra đời từ những nỗ lực nhằm chứng minh sự bất khả thi của nó. Trong năm tiên đề của Euclid, tiên đề thứ năm, tiên đề cuối cùng, không hoàn toàn hiển nhiên. Nó định đề rằng từ bất kỳ điểm nào không nằm trên một đường thẳng đã cho, ta chỉ có thể kẻ được đúng một đường thẳng song song với nó. Liệu có thể suy ra tiên đề này từ bốn tiên đề còn lại, hoặc ít nhất là từ những tính chất hiển nhiên hơn được bổ sung thêm của mặt phẳng và đường thẳng hay không? Bằng cách giả sử điều ngược lại — rằng có một điểm từ đó có thể kẻ được ít nhất hai đường thẳng không cắt đường thẳng thứ ba, chúng ta sẽ rất nhanh chóng đi đến những khẳng định khá sâu sắc. Chẳng hạn, tổng các góc của bất kỳ tam giác nào cũng nhỏ hơn $180^\circ$.

Hình học phi Euclid được phát triển độc lập bởi C.F. Gauss (1777-1855), J. Bolyai (1802-1860) và N.I. Lobachevsky (1792-1856). Người cuối cùng đã tiến xa nhất trong việc xây dựng hình học này và chưa bao giờ vấp phải mâu thuẫn logic nào. Mặc dù nhiều sự thật ông khám phá ra trái ngược với trực giác thông thường. Ví dụ, trong hình học Lobachevsky không có hình nào như hình vuông. Nếu không, nó sẽ bị chia bởi đường chéo thành hai tam giác bằng nhau với tổng các góc là $180^\circ$. Ở đó cũng không có lấy một cặp hình nào đồng dạng mà không bằng nhau. Ví dụ, nếu có hai hình đồng dạng hai hình tam giác đó, thì bằng cách ghép một trong các góc của chúng lại, ta sẽ thu được một tứ giác (tam giác lớn trừ đi tam giác nhỏ) với tổng các góc là $360^\circ$. Bằng cách chia nó bằng một đường chéo, ta sẽ thu được hai tam giác, trong đó ít nhất một tam giác có tổng các góc không nhỏ hơn $180^\circ$. Cuối cùng, điều có vẻ kỳ lạ nhất là, trên mặt phẳng Lobachevsky không có những tam giác với diện tích lớn tùy ý. Diện tích của tất cả các tam giác bị giới hạn bởi một hằng số nhất định.

Vào cuối thế kỷ XIX, một số mô hình toán học của mặt phẳng Lobachevsky đã được xây dựng, chứng minh tính phi mâu thuẫn của nó với điều kiện là hình học Euclid không mâu thuẫn. Một trong số đó, mang tên nhà toán học xuất chúng người Pháp Henri Poincaré (1854-1912), lại được đề xuất bởi một nhà khoa học khác — Eugenio Beltrami (1835-1900). Mô hình này không chỉ lập luận cho tính phi mâu thuẫn của hình học Lobachevsky, mà còn cho phép chứng minh nhiều khẳng định của nó trong khi vẫn nằm trong khuôn khổ của hình học Euclid.

Mặt phẳng Lobachevsky trong mô hình Poincaré là nửa mặt phẳng phía trên của mặt phẳng Euclid thông thường. Biên của nó, trục $x$, được gọi là đường tuyệt đối hay đơn giản là trục, và nó không thuộc về nửa mặt phẳng trên (Hình 15). Các đường thẳng trong mặt phẳng Lobachevsky chính là các nửa trên của các đường tròn có tâm nằm trên trục tuyệt đối. Các nửa đường tròn này là "mở", tức là không bao gồm các điểm mút nằm trên trục tuyệt đối.

Mô hình Poincaré
Hình 15: Mặt phẳng Lobachevsky trong mô hình Poincaré, với "đường thẳng" là các nửa đường tròn hoặc tia vuông góc với trục tuyệt đối.

Ngoài ra, các đường thẳng còn bao gồm các tia thẳng đứng "mở" bắt đầu từ trục $x$. Người đọc có thể dễ dàng chứng minh rằng qua hai điểm bất kỳ luôn có thể vẽ được một và chỉ một đường thẳng. Hơn nữa, qua mỗi điểm không nằm trên một đường thẳng đã cho, ta có thể kẻ được rất nhiều đường thẳng không cắt nó. Tuy nhiên, để thỏa mãn tất cả các tiên đề, cần phải đưa thêm khái niệm độ dài và góc. Việc đưa ra độ dài không hề đơn giản! Rốt cuộc, với độ dài này, các đường ngắn nhất phải là các nửa đường tròn có điểm mút trên trục! Do đó, độ dài trên nửa mặt phẳng Poincaré phải khác. Phải như thế nào?

Tất nhiên, bản thân Beltrami đã biết trước câu trả lời từ lý thuyết hàm biến phức. Chúng ta sẽ chỉ ra cách xây dựng độ dài này bằng các công cụ sơ cấp.

Một lần nữa, chúng ta lại áp dụng sự tương tự quang học. Chúng ta sẽ đo khoảng cách không phải bằng mét mà bằng giây. Khoảng cách giữa các điểm A và B bằng thời gian để tia sáng đi từ A đến B. Đối với khoảng cách này, cả bất đẳng thức tam giác và định luật cộng khoảng cách đối với ba điểm trên cùng một đường thẳng đều sẽ đúng.

Nếu môi trường là đồng nhất, thì ánh sáng đi đến đâu cũng với cùng một tốc độ, và do đó, đường đi ngắn nhất sẽ là đường thẳng (Euclid). Cần phải tìm hàm vận tốc $v(y)$ trên nửa mặt phẳng, sao cho đường đi ngắn nhất luôn là một cung tròn có tâm trên trục $x$. Như vậy, chúng ta đi đến một bài toán ngược: tìm hàm vận tốc $v(y)$ khi biết trước quỹ đạo.

Nếu các điểm A và B được nối bằng một cung tròn có tâm tại điểm P trên trục $x$, thì theo Định lý 1, đối với mọi điểm M trên cung này phải thỏa mãn $\frac{\cos\alpha}{v(y)} = c$. Ở đây $y$ là khoảng cách từ M đến trục $x$, và $\alpha$ là góc giữa tiếp tuyến KM của đường tròn và trục (Hình 16). Vì góc này trong tam giác vuông KMP bằng góc giữa cạnh góc vuông MP và đường cao $y$, nên ta có $\cos\alpha = \frac{y}{MP}$, từ đó suy ra $v(y) = \frac{1}{c\cdot MP}y$. Tuy nhiên MP là bán kính của đường tròn, tức là một đại lượng không đổi. Như vậy, $\frac{\cos\alpha}{y} = \text{const}$ tức là vận tốc $v(y)$ tỷ lệ thuận với $y$. Để đơn giản, ta chọn hệ số tỷ lệ bằng 1, thu được $v(y) = y$. Với vận tốc này, ánh sáng đi từ A đến B theo cung tròn có tâm trên trục $x$.

Đường đi tia sáng trong mô hình Poincaré
Hình 16: Tính toán góc và vận tốc cho quỹ đạo là nửa đường tròn.

Cần nhấn mạnh một lần nữa: chúng ta chỉ mới chứng minh được rằng cung tròn có tâm trên trục là một nghiệm của phương trình $\frac{\cos\alpha}{y} = \text{const}$.

Chúng ta chưa chứng minh được nghiệm này là duy nhất, cũng như chưa chứng minh được nó thực sự cho thời gian ngắn nhất. Các phương pháp của phép tính biến phân (vượt xa phạm vi của bài viết này) cho phép chứng minh rằng cả hai điều này đều đúng.

Định lý 4. Nếu vận tốc tại mỗi điểm $(x; y)$ của nửa mặt phẳng phía trên bằng $y$, thì đường đi ngắn nhất giữa hai điểm bất kỳ (tức là con đường mà qua đó ta có thể đi từ điểm này đến điểm kia trong thời gian ngắn nhất) sẽ là một cung tròn có tâm trên trục.

Nếu hai điểm A và B nằm trên cùng một đường thẳng đứng, thì đường tròn sẽ biến thành một tia thẳng đứng.

Sau khi đã làm rõ về độ dài, bây giờ chúng ta có thể đưa ra một số khẳng định quan trọng.

Khẳng định 1. Mỗi nửa đường tròn với các điểm mút nằm trên đường tuyệt đối đều có độ dài vô hạn. Không thể đạt tới đường thẳng $x$ từ bất kỳ điểm nào của nửa mặt phẳng phía trên.

Chúng ta sẽ đưa ra chứng minh chặt chẽ sau một chút, còn bây giờ tạm giới hạn ở việc giải thích. Ta sẽ chỉ ra rằng một điểm bất kỳ sẽ di chuyển về phía trục $x$ dọc theo đường vuông góc trong một khoảng thời gian vô hạn. Giả sử nó đi được nửa quãng đường trong thời gian $T$. Ở nửa quãng đường còn lại, tung độ $y$ của các điểm tương ứng sẽ nhỏ đi một nửa, tức là nó sẽ chuyển động với vận tốc chỉ bằng một nửa và đi qua những quãng đường cũng bằng một nửa. Do đó, nó sẽ đi được một nửa của phần đường còn lại trong cùng một khoảng thời gian $T$. Nửa phần đường còn lại tiếp theo lại mất thêm thời gian $T$, và cứ như vậy.

Khẳng định 2. Các phép nghịch đảo (inversion) đối với các đường tròn có tâm trên đường tuyệt đối chính là các phép đối xứng trục của mặt phẳng Lobachevsky trong mô hình Poincaré.

Các phép đối xứng trục có thể được đặc trưng như những phép dời hình của mặt phẳng, giữ nguyên vị trí các điểm của một đường thẳng nào đó và thay đổi vị trí của các điểm còn lại. Phép nghịch đảo đối với đường tròn có tâm trên trục sẽ giữ nguyên vị trí của tất cả các điểm trên đường tròn đó. Do đó, chỉ còn phải chứng minh rằng đó là một phép dời hình, tức là phép nghịch đảo không làm thay đổi khoảng cách.

Phép nghịch đảo trong mô hình Poincaré
Hình 17: Bảo toàn khoảng cách dưới phép nghịch đảo.

Như thường lệ, chỉ cần chỉ ra rằng nó "gần như" không làm thay đổi khoảng cách giữa các điểm gần nhau, sau đó chia bất kỳ đoạn thẳng nào thành các đoạn thẳng nhỏ, v.v. Hãy lấy một đường thẳng bất kỳ trong mô hình Poincaré. Nếu nó được biểu diễn bằng một tia vuông góc với trục, thì phép nghịch đảo trở thành phép đối xứng trục và không có gì để chứng minh. Giả sử nó được biểu diễn bằng một đường tròn bán kính $R$ có tâm $O$. Lấy hai điểm A, B gần nhau (Hình 17); phép nghịch đảo biến chúng thành các điểm $A'$ và $B'$. Vì $OA \cdot OA' = OB \cdot OB' = R^2$, nên $\frac{OA}{OB'} = \frac{OB}{OA'}$, và do đó, các tam giác $OAB$ và $OB'A'$ đồng dạng với một hệ số $k$ nào đó. Hệ số này bằng tỷ số độ dài của các đoạn thẳng $AB$ và $A'B'$, cũng như tỷ số $\frac{OA}{OB'}$, xấp xỉ bằng tỷ số $\frac{OA}{OA'}$ vì hai điểm $B'$ và $A'$ nằm gần nhau. Mặt khác, $\frac{OA}{OA'} = \frac{y_A}{y_{A'}} = \frac{v(y_A)}{v(y_{A'})}$, trong đó $y_A$ và $y_{A'}$ là tung độ của các điểm A và $A'$. Như vậy, $\frac{AB}{A'B'} = k \approx \frac{v(y_A)}{v(y_{A'})}$. Vì các đoạn thẳng này rất nhỏ, ta có thể coi toàn bộ đoạn AB được đi với tốc độ $v(y_A)$ và toàn bộ đoạn $A'B'$ được đi qua với vận tốc $v(y_{A'})$. Do đó, tỷ số chiều dài các đoạn thẳng bằng tỷ số các vận tốc, nghĩa là các đoạn thẳng này được đi qua trong cùng một khoảng thời gian.

Bây giờ chúng ta có thể chứng minh chặt chẽ Khẳng định 1. Nếu một điểm chuyển động về phía trục $x$ dọc theo một đường tròn bất kỳ có tâm trên trục (tức là dọc theo một đường thẳng bất kỳ trên mặt phẳng Lobachevsky), thì bằng cách sử dụng một phép nghịch đảo thích hợp biến đường tròn này thành một đường thẳng (Euclid), chúng ta sẽ thu được một điểm chuyển động dọc theo đường vuông góc với trục. Như đã chỉ ra trước đó, nó sẽ chuyển động trong một khoảng thời gian vô hạn.

Chú ý rằng, trong mặt phẳng Lobachevsky, định lý Chasles cũng được thỏa mãn (và cũng được chứng minh tương tự): mọi phép dời hình đều là hợp thành của không quá ba phép đối xứng trục. Do đó, mọi phép dời hình trong mô hình Poincaré là hợp thành của không quá ba phép nghịch đảo. Như chúng ta đã biết, phép nghịch đảo bảo toàn các góc giữa các đường tròn. Vì vậy, mọi phép dời hình trong mô hình Poincaré đều bảo toàn các góc (Euclid). Từ đó suy ra (bỏ qua các chi tiết) khẳng định sau.

Khẳng định 3. Các góc giữa các đường thẳng trong mặt phẳng Lobachevsky bằng các góc (Euclid) giữa các đường tròn tương ứng trong mô hình Poincaré.

Bạn đọc quen thuộc với khái niệm tích phân có thể thiết lập công thức tính khoảng cách giữa hai điểm tùy ý $A$ và $B$. Đó là cái gọi là logarit của tỷ số kép (cross-ratio): $$ \ln\left(\frac{AN}{BN} : \frac{AM}{BM}\right), $$ trong đó $M, N$ là các giao điểm của "đường thẳng" $AB$ (tức là đường tròn có tâm trên trục đi qua $A$ và $B$) với đường tuyệt đối. Bạn có thể đọc chi tiết về mô hình Poincaré và hình học Lobachevsky trong các bài viết [3-5].

Tiếp theo là gì?

Phương pháp quang học không giải quyết được tất cả các bài toán cực trị. Trong hai thế kỷ qua, nhân loại đã phát minh ra nhiều phương pháp tổng quát hơn. Đúng là chúng sẽ đòi hỏi chúng ta phải có sự chuẩn bị kỹ càng hơn. Trước tiên là làm quen với phép tính tích phân và phương trình vi phân. Đối với phương pháp quang học, không cần những thứ này. Nó thực sự rất đơn giản. Nhưng ưu điểm chính của nó nằm ở chỗ khác: nó cho thấy một ý tưởng đơn giản có thể đóng vai trò như đòn bẩy Archimedes trong tay những người khéo léo. Và trong toán học hiện đại, điều này xảy ra rất thường xuyên. Những ý tưởng đột phá mới nhất đôi khi lại đơn giản và trực quan. Đôi khi chỉ cần nhìn xung quanh và theo dõi mối liên hệ giữa các sự vật.

Và ngoài ra, phương pháp quang học còn rất đẹp! Mặc dù, theo quan điểm của chúng tôi, các phương pháp hiện đại cũng đẹp không kém.

Trả lời câu hỏi về màng xà phòng

Mặt có diện tích nhỏ nhất sẽ là hợp của hai hình tròn. Tổng diện tích của hai mặt phẳng căng trên các hình tròn sẽ là nghiệm của bài toán Plateau. Màng xà phòng sẽ bị tách làm hai phần.

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Chuyên đề bồi dưỡng HSG vật lý: Các bài toán về lượng tử ánh sáng

Để chinh phục thành công các kỳ thi học sinh giỏi, việc hiểu sâu bản chất của các hiện tượng vi mô là điều vô cùng cần thiết. Bài đăng Chuyên đề bồi dưỡng HSG vật lý: Các bài toán về lượng tử ánh sáng này sẽ cung cấp một hệ thống kiến thức chuyên sâu và mang tính thực chiến cao. Qua việc phân tích các định luật nền tảng của M. Planck, A. Einstein cùng các dạng bài tập lượng tử ánh sáng nâng cao, từ đặc trưng của photon, hiệu ứng quang điện cho đến các định luật bảo toàn động lượng trong thế giới vi mô, tài liệu sẽ giúp người đọc hình thành phản xạ tư duy nhạy bén. Đây chắc chắn là nguồn tham khảo chất lượng, hỗ trợ đắc lực cho các em học sinh và quý đồng nghiệp trong quá trình ôn thi học sinh giỏi Vật lý các cấp.

Chuyên đề bồi dưỡng HSG vật lý: Các bài toán về lượng tử ánh sáng

Khi xây dựng định luật phân bố năng lượng trong quang phổ bức xạ của vật đen tuyệt đối, năm 1900, M. Planck đã đưa ra một giả thuyết hoàn toàn xa lạ với vật lý cổ điển, cho rằng sự bức xạ (và hấp thụ) ánh sáng của các nguyên tử không diễn ra một cách liên tục mà thành từng phần rời rạc — các lượng tử. Planck cho rằng năng lượng của một lượng tử được xác định bởi biểu thức: $$ E = h\nu $$ trong đó $\nu$ là tần số bức xạ, còn $h$ là một hằng số, sau này được gọi là hằng số Planck. Theo các dữ liệu hiện đại $h = 6,626 \cdot 10^{-34}$ J.s.

Phát triển lý thuyết lượng tử, năm 1905, A. Einstein đã đi đến quan điểm cho rằng ngay cả khi lan truyền trong không gian, ánh sáng cũng cư xử giống như một tập hợp các hạt nào đó, với năng lượng được xác định bởi công thức của Planck. Những hạt như vậy được gọi là lượng tử ánh sáng, hay photon.

Có rất nhiều điều đã được biết về photon. Khối lượng nghỉ của nó bằng không (ít nhất, các dữ liệu thực nghiệm hiện tại cho phép khẳng định rằng khối lượng nghỉ của photon nhỏ hơn $4 \cdot 10^{-36} m_e$, với $m_e$ là khối lượng nghỉ của electron), và vận tốc của nó bằng vận tốc ánh sáng. Nếu photon có năng lượng, nó cũng phải có động lượng.

Mối liên hệ giữa năng lượng và động lượng có thể dễ dàng tìm được từ các hệ thức: $$ E = mc^2 \quad \text{và} \quad p = mc $$ trong đó $m$ là khối lượng tương đối tính của photon, $c$ là vận tốc ánh sáng. Kết quả là ta thu được: $$ p = \frac{E}{c} = \frac{h\nu}{c} $$

Một trong những hiện tượng xác nhận giả thuyết về photon là hiệu ứng quang điện, được H. Hertz phát hiện vào năm 1887. Lý thuyết định lượng về hiệu ứng quang điện đã được Einstein xây dựng vào năm 1905. Và các thí nghiệm của A. Compton về tán xạ tia X đã chứng minh một cách trực quan rằng các photon tuân theo những định luật cơ học giống như các hạt vật chất.

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét một bài toán cụ thể.

I. Bài toán về Hiệu ứng quang điện

Bài toán 1

Catốt của một tế bào quang điện chân không (Hình 1) được chiếu sáng bằng ánh sáng có tần số $\nu = 10^{15}$ Hz và công suất bức xạ $P = 0,41$ W. Nếu giữ nguyên cường độ và tần số của ánh sáng tới, đồng thời thay đổi điện áp giữa anốt và catốt (cả độ lớn và dấu), thì sự phụ thuộc của dòng quang điện $I$ vào điện áp $U$ sẽ có dạng như Hình 2.

Hãy xác định công thoát của vật liệu làm catốt quang điện dựa vào đồ thị này (anốt cũng được làm từ cùng một vật liệu). Đồng thời, hãy tìm xác suất để một photon đơn lẻ bứt được một electron ra khỏi catốt.

Khi chiếu sáng catốt bằng ánh sáng, xảy ra tương tác giữa các lượng tử ánh sáng với các electron của vật chất, và trong trường hợp hiệu ứng quang điện ngoài (như trong bài toán này), đó là các electron dẫn nằm ở lớp bề mặt của catốt. Trong quá trình va chạm giữa một photon và một trong những electron này, năng lượng $h\nu$ của photon được truyền hoàn toàn cho electron, và nếu năng lượng bổ sung này đủ lớn, electron có thể thoát khỏi bề mặt catốt.

Động năng cực đại $E_k$ của quang electron được xác định bởi phương trình Einstein cho hiệu ứng quang điện: $$ E_k = h\nu - A $$ trong đó $A$ là công thoát của electron từ bề mặt vật liệu bị chiếu sáng ra chân không. Nếu năng lượng photon lớn hơn công thoát, thì ngay cả khi hiệu điện thế giữa catốt và anốt bằng 0, một phần các quang electron vẫn bay đến được anốt và trong mạch kín của tế bào quang điện có dòng điện chạy qua. Khi hiệu điện thế giữa anốt và catốt có giá trị âm (trên anốt mang điện âm, trên catốt mang điện dương), số lượng quang electron bay tới anốt sẽ giảm đi. Rõ ràng là dòng quang điện sẽ bằng 0 nếu hiệu điện thế hãm giữa anốt và catốt bằng: \begin{align} U_h = \frac{E_k}{e} \quad \text{hay} \quad E_k = e U_h \end{align} với $e$ là điện tích của electron. Thay biểu thức này vào phương trình Einstein, ta được: $$ A = h\nu - e U_h $$

Sơ đồ tế bào quang điện
Hình 1: Sơ đồ mạch điện nghiên cứu hiệu ứng quang điện.

Đồ thị dòng quang điện
Hình 2: Đồ thị đường cong quang điện (sự phụ thuộc của dòng quang điện $I$ vào điện áp $U$).

Từ đồ thị, ta tìm được trong trường hợp của chúng ta $U_h = 0,3$ V. Công thoát thường được biểu diễn bằng electron-volt ($1 \text{ eV} = 1,6 \cdot 10^{-19}$ J), do đó kết quả cuối cùng ta thu được: $$ A = 3,84 \text{ eV} $$

Khi các photon đập vào vật liệu catốt, không phải mọi photon đều bứt được một electron. Rõ ràng, xác suất của một sự kiện như vậy (hiệu suất lượng tử) bằng tỷ số giữa số electron $N_e$ bay ra khỏi catốt trong một đơn vị thời gian và số photon $N_\Phi$ đập vào bề mặt catốt trong cùng khoảng thời gian đó: $$ \eta = \frac{N_e}{N_\Phi} $$

Số photon $N_\Phi$ được xác định bởi công suất của bức xạ tới: $$ N_\Phi = \frac{P}{h\nu} = 6,2 \cdot 10^{17} \text{ s}^{-1} $$ Còn số lượng electron $N_e$ được xác định bởi độ lớn của dòng quang điện bão hòa $I_{bh}$ (từ đồ thị $I_{bh} = 1 \cdot 10^{-3}$ A): \begin{align} N_e &= \frac{I_{bh}}{e}\\ &= \frac{10^{-3}}{1,6 \cdot 10^{-19}}\\ &= 6,25 \cdot 10^{15} \text{ s}^{-1} \end{align}

Vậy xác suất bứt electron từ một photon là: $$ \eta = \frac{6,25 \cdot 10^{15}}{6,2 \cdot 10^{17}} \approx 0,01 \text{ (hay } 1\% \text{)} $$

Bài toán 2

Quang thông qua một lỗ nhỏ có tiết diện $\sigma_1 = 2 \text{ mm}^2$ lọt vào bên trong một hốc có diện tích bề mặt $S = 5 \text{ cm}^2$ (Hình 3). Thành hốc hấp thụ một phần nhỏ ánh sáng và tán xạ phần còn lại. Bên trong hốc tạo ra một bức xạ đẳng hướng (phân bố đều theo mọi hướng). Từ lỗ thứ hai có tiết diện $\sigma_2 = \sigma_1$, có $n = 0,2$ quang thông lọt vào lỗ thứ nhất thoát ra ngoài. Hệ số hấp thụ của thành hốc bằng bao nhiêu?

Trong bài toán này, dĩ nhiên ta đang xét ở chế độ xác lập (trạng thái dừng), khi mật độ năng lượng bức xạ ánh sáng bên trong hốc là không đổi. Nhân tiện lưu ý rằng, một hốc như vậy là mô hình rất tốt của một vật đen tuyệt đối.

Gọi $E$ là năng lượng bức xạ chiếu tới một đơn vị diện tích bề mặt hốc trong một đơn vị thời gian. Khi đó, quang thông thoát ra qua các lỗ là $\Phi_1 = 2\sigma E$, và quang thông bị thành hốc hấp thụ là $\Phi_2 = (S - 2\sigma)\beta E$, trong đó $\beta$ là hệ số hấp thụ cần tìm của thành hốc.

Hốc bức xạ
Hình 3: Mô hình bức xạ bên trong hốc.

Từ điều kiện cân bằng năng lượng, ta tìm được quang thông $\Phi$ đi vào hốc trong một đơn vị thời gian: \begin{align} \Phi &= \Phi_1 + \Phi_2\\ &= 2\sigma E + (S - 2\sigma)\beta E \end{align}

Theo điều kiện bài toán, quang thông thoát ra từ lỗ thứ hai chiếm phần $n$ của quang thông đi vào: $$ \sigma E = n\Phi $$

Giải hệ hai phương trình cuối cùng, ta thu được: $$ \beta = \frac{(1 - 2n)\sigma}{n(S - 2\sigma)} = 0,012 $$

Bài toán 3

Một chùm tia laser xung hẹp có năng lượng $E = 0,4$ J và độ dài xung $\tau = 10^{-9}$ s chiếu vào một thấu kính hội tụ song song với trục chính $OO'$ của nó (Hình 4). Khoảng cách từ chùm tia đến trục chính có độ lớn bằng tiêu cự của thấu kính. Tìm độ lớn lực trung bình do ánh sáng tác dụng lên thấu kính, nếu một nửa năng lượng bức xạ laser bị thấu kính hấp thụ. Bỏ qua sự phản xạ từ các bề mặt của thấu kính.

Lực tác dụng lên thấu kính khi bức xạ laser truyền qua nó bằng độ biến thiên động lượng của thấu kính trong một đơn vị thời gian: $$ \vec{F} = \frac{\Delta\vec{p}_{tk}}{\Delta t} $$

Ta xét hệ kín "bức xạ laser – thấu kính". Động lượng của hệ này trước khi ánh sáng truyền qua thấu kính hiển nhiên bằng động lượng của bức xạ laser, hướng dọc theo trục quang học của thấu kính, và độ lớn của nó là $p_{c1} = E/c$.

Tia laser qua thấu kính
Hình 4: Đường đi của chùm tia laser.

Sau khi khúc xạ qua thấu kính, chùm sáng đi qua tiêu điểm ảnh và truyền đi dưới một góc $\alpha = \text{arctg}(1) = \pi/4$ (Hình 5). Chùm tia ló có năng lượng $0,5E$ (đã tính đến sự hao hụt trong thấu kính), và động lượng $\vec{p}_{c2}$ của nó hợp với phương ngang một góc $\alpha$, có độ lớn $p_{c2} = 0,5E/c$.

Động lượng tia laser
Hình 5: Phân tích véc-tơ động lượng.

Theo định luật bảo toàn động lượng cho hệ kín, động lượng mà thấu kính nhận được sẽ là: $$ \vec{p}_{tk} = \vec{p}_{c1} - \vec{p}_{c2} $$ Độ lớn của nó: $$ p_{tk} = \sqrt{p_{c1}^2 + p_{c2}^2 - 2p_{c1}p_{c2}\cos\alpha} $$

Động lượng ban đầu của thấu kính bằng không, do đó độ biến thiên động lượng chính bằng động lượng $\vec{p}_{tk}$ mà nó thu được. Sự biến thiên này xảy ra trong thời gian $\tau$, do đó, lực trung bình tác dụng lên thấu kính sẽ là: \begin{align} F = \frac{\Delta p_{tk}}{\Delta t}& = \frac{p_{tk}}{\tau}\\ & = \frac{1}{\tau}\sqrt{p_{c1}^2 + p_{c2}^2 - 2p_{c1}p_{c2}\cos\alpha}\\ &\approx 0,7\frac{E}{c\tau}\\ &= 1 \text{ N} \end{align}

Bài toán 4

Một hạt $\pi_0$-meson trung hòa đang bay thì phân rã thành hai lượng tử $\gamma$ giống nhau (các photon có năng lượng cao). Góc bay xa nhau giữa các lượng tử $\gamma$ là $\theta = 174^\circ$. Xác định vận tốc của $\pi_0$-meson trước khi phân rã. Xét trường hợp phi tương đối tính, khi vận tốc của hạt nhỏ hơn rất nhiều so với vận tốc ánh sáng.

Trong thế giới vi mô cũng giống như trong thế giới vĩ mô, các định luật bảo toàn năng lượng và động lượng vẫn đúng cho các hệ kín. Ta sẽ sử dụng chúng.

Trước khi phân rã, tổng năng lượng của $\pi_0$-meson bao gồm năng lượng nghỉ $m_\pi c^2$ và động năng $m_\pi v^2 / 2$, trong đó $m_\pi$ là khối lượng nghỉ của hạt, còn $v$ là vận tốc của nó. Sau khi $\pi_0$-meson phân rã, xuất hiện hai lượng tử $\gamma$. Giả sử năng lượng của mỗi lượng tử là $E_\gamma$. Khi đó định luật bảo toàn năng lượng có thể được viết dưới dạng: $$ m_\pi c^2 + \frac{m_\pi v^2}{2} = 2E_\gamma $$

Định luật bảo toàn động lượng (với mô hình véc-tơ được biểu diễn trên Hình 6) cho phép thu được phương trình thứ hai:

Bảo toàn động lượng
Hình 6: Sơ đồ bảo toàn động lượng của hệ hạt.

Từ định luật bảo toàn động lượng, ta có: $$ m_\pi v = 2\frac{E_\gamma}{c}\cos\frac{\theta}{2} $$

Loại bỏ $E_\gamma$ từ hai phương trình này, ta thu được phương trình bậc hai đối với $v$: $$ v^2 - 2\frac{c}{\cos(\theta/2)}v + 2c^2 = 0 $$ và nghiệm của nó là: $$ v_{1,2} = \frac{c}{\cos(\theta/2)}\left(1 \pm \sqrt{1 - 2\cos^2\frac{\theta}{2}}\right) $$

Nghiệm thứ nhất không có ý nghĩa vật lý vì $v > c$, nên nghiệm của bài toán sẽ là nghiệm thứ hai, cụ thể là: \begin{align} v = v_2& = \frac{c}{\cos(\theta/2)}\left(1 - \sqrt{1 - 2\cos^2\frac{\theta}{2}}\right)\\ &= c \cos\frac{\theta}{2}\\ &\approx 1,6 \cdot 10^7 \text{ m/s} \end{align} (Ở đây chúng ta đã sử dụng phép gần đúng: vì $\frac{\theta}{2}$ xấp xỉ $\pi/2$ nên $\cos\frac{\theta}{2} \ll 1$, suy ra $\sqrt{1 - 2\cos^2\frac{\theta}{2}} \approx 1 - \cos^2\frac{\theta}{2}$).




II. Bài tập tự giải

Bài tập 1

Trên Hình 7 biểu diễn đồ thị thu được từ thực nghiệm về sự phụ thuộc của hiệu điện thế hãm $U_h$ (tức là điện áp giữa catốt và anốt mà tại đó dòng quang điện trong tế bào chân không triệt tiêu) vào tần số $\nu$ của ánh sáng tới. Sử dụng đồ thị này, hãy tìm giá trị của hằng số Planck, công thoát của electron khỏi catốt và giới hạn đỏ của hiệu ứng quang điện.

Đồ thị hiệu điện thế hãm
Hình 7: Đồ thị sự phụ thuộc của điện áp hãm $U_h$ vào tần số $\nu$.

Bài tập 2

Một quả cầu đồng cô lập sẽ tích điện đến điện thế cực đại bằng bao nhiêu nếu nó được chiếu bằng ánh sáng tử ngoại có bước sóng $\lambda = 2 \cdot 10^{-7}$ m? Công thoát của electron đối với đồng là $A = 4,47$ eV, hằng số Planck $h = 6,62 \cdot 10^{-34}$ J.s, điện tích electron $e = 1,6 \cdot 10^{-19}$ C.


Bài tập 3

Một chùm tia laser xung hẹp có năng lượng $E = 0,5$ J và độ dài xung $\tau = 10^{-9}$ s chiếu vào một thấu kính phân kỳ song song với trục chính quang học của nó. Khoảng cách từ chùm tia đến trục là $F/\sqrt{3}$, trong đó $F$ là tiêu cự của thấu kính. Tìm độ lớn lực trung bình do ánh sáng tác dụng lên thấu kính, nếu một nửa năng lượng của bức xạ laser bị hấp thụ trong thấu kính. Bỏ qua sự phản xạ từ các bề mặt của thấu kính.




III. Thư bạn đọc: "Thắp sáng"... bằng ánh sáng

Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn một phương pháp rất đơn giản và trực quan để "tạo ra" ánh sáng nhờ hiệu ứng quang điện.

Hãy lắp ráp một mạch điện đơn giản (xem hình) với một bóng đèn neon thu nhỏ, trong đó có một điện cực phẳng và điện cực kia hình khuyên. Đầu tiên, hãy tăng dần điện áp và để xuất hiện sự phóng điện phát sáng trong bóng đèn. Sau đó giảm nhẹ điện áp sao cho sự phóng điện đó tắt đi. Bây giờ, hãy chiếu sáng bóng đèn neon bằng chùm tia từ laser heli-neon, hướng chùm tia vuông góc vào điện cực phẳng của nó, ánh sáng màu cam rực rỡ của sự phóng điện sẽ xuất hiện trở lại.

Sơ đồ mạch điện đèn Neon
Hình 8: Sơ đồ mạch điện thắp sáng đèn Neon bằng ánh sáng.

Nếu bạn không có laser, đừng buồn. Bạn có thể sử dụng ánh sáng từ đèn sợi đốt thông thường hoặc thậm chí chỉ là ánh sáng ban ngày, bằng cách luân phiên chiếu sáng bóng đèn neon rồi lấy lòng bàn tay che lại. Tất nhiên, thực hiện thí nghiệm với laser heli-neon sẽ ấn tượng hơn, mặc dù điều đó là không bắt buộc.

Cuối cùng, một vài lời khuyên thực tế. Tốt nhất là quan sát sự phóng điện từ một góc chếch so với pháp tuyến của điện cực phẳng. Điện trở giới hạn (ballast) nên lấy ở mức khoảng $2 \text{ k}\Omega$ — nếu điện trở lớn hơn đáng kể, thí nghiệm có thể không thành công. Sự mồi phóng điện xảy ra ở khoảng 50-60 V, do đó không nên tăng điện áp quá mức để tránh làm hỏng đèn neon.

Chúc các bạn thực hiện thí nghiệm thành công!
G. Zharikov

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Chuyên đề bồi dưỡng HSG quốc gia môn Vật lý: Bất biến đoạn nhiệt

Trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý, bên cạnh các chuyên đề quen thuộc như Động lực học hay Điện từ học, khái niệm Bất biến đoạn nhiệt (Adiabatic Invariant) luôn là một chủ đề đầy thách thức nhưng mang vẻ đẹp tư duy toán - lý vô cùng thú vị. Nó không chỉ đóng vai trò là chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ học cổ điểnnhiệt động lực học lượng tử, mà còn là một công cụ cực kỳ mạnh mẽ giúp học sinh giải quyết nhanh gọn các bài toán Vật lý nâng cao về hệ dao động mà không cần phải đâm đầu vào những phương trình vi phân phi tuyến cồng kềnh.

Bài viết dưới đây được chúng tôi biên dịch chi tiết từ chuyên khảo của tác giả A. Vlasov, đăng trên tạp chí khoa học danh tiếng Kvant của Nga. Thông qua một hệ thống bài tập Vật lý chọn lọc – đi từ những mô hình cơ học trực quan như vật trượt, con lắc Rayleigh-Lorentz, cho đến các hệ dao động cơ điện phức tạp mang dấu ấn của Einstein và Ehrenfest – tài liệu này sẽ giúp các thầy cô giáo và các bạn học sinh thấu hiểu sâu sắc bản chất của quá trình đoạn nhiệt cũng như quy luật bảo toàn diện tích trong không gian pha.

Nếu bạn đang tìm kiếm một tài liệu chất lượng để rèn luyện tư duy Vật lý chuyên sâu, thì đây chắc chắn là một bài viết không thể bỏ qua. Hãy cùng khám phá sự kỳ diệu của Bất biến đoạn nhiệt ngay sau đây!


Chuyên đề bồi dưỡng HSG quốc gia môn Vật lý: Bất biến đoạn nhiệt

I. Bất biến đoạn nhiệt là gì?

Trước khi đi vào các bài toán cụ thể, hãy cùng làm rõ hai khái niệm cốt lõi tạo nên chủ đề của bài viết này: Đoạn nhiệtBất biến.

Trong nhiệt động lực học, "đoạn nhiệt" (adiabatic) thường chỉ một quá trình biến đổi trạng thái mà không có sự trao đổi nhiệt với môi trường bên ngoài. Tuy nhiên, trong cơ học và lý thuyết dao động, quá trình đoạn nhiệt mang một ý nghĩa đặc thù hơn: nó ám chỉ sự thay đổi vô cùng chậm chạp của một hoặc nhiều thông số trong hệ.

Giả sử hệ vật lý của chúng ta đang thực hiện một chuyển động tuần hoàn (như con lắc đung đưa, một hạt dao động) với chu kỳ $T$. Gọi thông số xác định hệ (ví dụ: chiều dài sợi dây, độ cứng lò xo, hoặc khoảng cách giữa các vật) là $\lambda$. Quá trình biến đổi này được coi là "đoạn nhiệt" nếu sự thay đổi của thông số $\lambda$ trong một chu kỳ $T$ là cực kỳ nhỏ so với chính nó. Về mặt toán học, điều kiện này được viết là: $$ \frac{d\lambda}{dt}T \ll \lambda $$

Bất biến (invariant) hiểu một cách đơn giản là một đại lượng không thay đổi. Kết hợp lại, bất biến đoạn nhiệt (adiabatic invariant) là một đại lượng vật lý của một hệ dao động luôn được bảo toàn (không đổi) khi các thông số của hệ thay đổi một cách cực kỳ chậm.

Một trong những biểu thức bất biến đoạn nhiệt nổi tiếng nhất đối với các hệ dao động điều hòa chính là công thức do Einstein dự đoán: tỉ số giữa năng lượng $E$ của hệ và tần số góc $\omega$ (hoặc tích của năng lượng và chu kỳ $T$) luôn là một hằng số: $$ \frac{E}{\omega} = ET = \text{inv} $$

Tổng quát hơn, nếu ta biểu diễn chuyển động của hệ trong không gian pha (không gian được tạo bởi tọa độ $q$ và động lượng $p$), quỹ đạo chuyển động trong một chu kỳ sẽ vẽ ra một đường cong khép kín. Bất biến đoạn nhiệt tỷ lệ với chính diện tích giới hạn bởi đường cong đó: $$ I = \frac{1}{2\pi}\oint p dq = \text{inv} $$

Ý nghĩa thực tiễn của công cụ này là vô cùng to lớn. Thông thường, khi các thông số của hệ thay đổi, ta sẽ phải đối mặt với các phương trình vi phân phi tuyến rất phức tạp. Nhưng nếu quá trình là đoạn nhiệt, ta có thể "đi tắt" qua sự phức tạp đó: chỉ cần sử dụng định luật bảo toàn của đại lượng bất biến này để thiết lập ngay mối liên hệ giữa trạng thái ban đầu và trạng thái cuối.

Lịch sử của khái niệm này gắn liền với những nhà vật lý, toán học vĩ đại như Rayleigh, Lorentz, Einstein hay Ehrenfest. Nhưng thay vì sa đà vào các lý thuyết trừu tượng, chúng ta sẽ bắt đầu làm quen với bất biến đoạn nhiệt thông qua những bài toán đơn giản. Chủ đề và phương pháp giải của chúng sẽ là phần giới thiệu khác thường nhưng rất trực quan. Chúng ta sẽ quan sát hiện tượng trước, sau đó thiết lập các phương trình để hiểu sâu bản chất. Toán học trong bài sẽ không quá phức tạp, chỉ cần bạn đã nắm vững đạo hàm và cách tính các tích phân cơ bản nhất.

Hãy cùng bắt đầu bằng một bài toán rất đơn giản.

II. Một số bài toán áp dụng Bất biến đoạn nhiệt

Trước tiên là một bài toán rất đơn giản.

Bài toán 1. Rất chậm, nhưng chắc chắn

Chuyển động của một vật nhỏ (hình khối) trên một bề mặt ngang nhẵn bị giới hạn bởi hai bức tường thẳng đứng (Hình 1). Bức tường bên trái đứng yên, còn bức tường bên phải bắt đầu chuyển động sang trái với vận tốc không đổi, nhỏ hơn nhiều so với vận tốc ban đầu của vật ($u \ll v_0$).

Hãy xác định động năng của vật sẽ thay đổi bao nhiêu lần nếu khoảng cách giữa hai bức tường giảm đi $n$ lần? Tất cả các va chạm được coi là đàn hồi tuyệt đối.

Chuyển động của vật giữa hai bức tường
Hình 1: Chuyển động của vật nhỏ bị giới hạn bởi hai bức tường.

Ta xác định sự thay đổi vận tốc của vật khi xảy ra va chạm tiếp theo. Chuyển sang hệ tọa độ gắn với bức tường chuyển động. Vật tiến đến tường với vận tốc $(v+u)$ và dội ngược lại với cùng độ lớn vận tốc (sau va chạm đàn hồi tuyệt đối).

Trở lại hệ quy chiếu đứng yên, ta thu được kết quả: $$ \Delta v = 2u $$

Lần va chạm tiếp theo xảy ra sau khoảng thời gian (nếu coi sự thay đổi vận tốc và khoảng cách giữa các bức tường là những đại lượng nhỏ): $$ \tau = \frac{2x}{v} $$

Trong khoảng thời gian $\Delta t$, lớn hơn đáng kể so với thời gian $\tau$, bức tường dịch chuyển một đoạn nhỏ $\Delta x$, đồng thời trải qua một số lượng khá lớn các va chạm $\Delta n.$ Coi đại lượng $\tau$ gần như không đổi, ta nhận được: \begin{gather} \Delta x = u\Delta t,\\ \quad \Delta t = \frac{\Delta x}{u},\\ \quad \Delta n = \frac{\Delta t}{\tau} = \frac{\Delta x}{u}\frac{v}{2x} \end{gather}

Sự thay đổi vận tốc trong thời gian này: $$ \Delta v = -\frac{\Delta x \cdot v}{u \cdot 2x}\cdot 2u $$ Ở đây, dấu "trừ" cho thấy khi khoảng cách giữa các bức tường tăng ($\Delta x > 0$) thì vận tốc giảm, còn khi khoảng cách giảm thì vận tốc tăng.

Từ hệ thức cuối cùng, ta tìm được bất biến - đại lượng được bảo toàn trong quá trình "nén" hệ: \begin{gather} \Delta v \cdot x + \Delta x \cdot v = 0,\\ \quad \Delta(vx) = 0,\\ \quad vx = \text{inv} \end{gather}

Sử dụng bất biến này, dễ dàng nhận được câu trả lời cho bài toán. Viết phương trình bất biến (định luật bảo toàn): $$ v_0 x_0 = vx $$ từ đó: \begin{gather} v = v_0\frac{x_0}{x} = nv_0\\ \rightarrow \frac{E_k}{E_{0k}} = n^2 \end{gather}

Cần lưu ý rằng bất biến thu được có thể được biểu diễn qua năng lượng và chu kỳ chuyển động: \begin{gather} vx = \text{inv}\\ \rightarrow px = \text{inv}\\ \rightarrow E\tau = \text{inv} \end{gather}

Thật thú vị khi xem hình ảnh mô phỏng trên máy tính (Hình 2) về chuyển động trong không gian pha (không gian tọa độ và động lượng - không gian ưa thích của các nhà lý thuyết dao động). Để dễ hình dung, chuyển động của bức tường được làm khá nhanh. Trong thời gian 10 chu kỳ chuyển động, khoảng cách giữa các bức tường giảm đi một nửa. Quỹ đạo pha của một chu kỳ chuyển động là một hình chữ nhật, diện tích của nó ($S = mv_0x_0 = 2$) không đổi theo đúng bất biến đã tìm được.

Chuyển động trong không gian pha
Hình 2: Đồ thị chuyển động của vật trong không gian pha.

Lịch sử của bài toán tiếp theo gắn liền với tên tuổi của các nhà vật lý vĩ đại: Rayleigh, Lorentz, Einstein.

Bài toán 2. Con lắc Rayleigh-Lorentz

Lorentz đề xuất xem xét bài toán về hành vi của một con lắc hơi khác thường: sợi dây treo quả nặng được kẹp bởi hai ngón tay; bằng cách di chuyển từ từ chúng dọc theo sợi dây theo phương thẳng đứng, ta có thể thay đổi chiều dài của con lắc, và do đó thay đổi chu kỳ của nó. Vậy năng lượng dao động sẽ ra sao? Theo Lorentz, câu trả lời của Einstein được đưa ra gần như ngay lập tức: năng lượng của hệ sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với tần số dao động. Hãy thử giải bài toán này và chiêm nghiệm sự thiên tài của nhà vật lý vĩ đại.

Chúng ta sẽ thay "các ngón tay của Lorentz" bằng một vòng trơn nhỏ, sợi dây của con lắc toán học sẽ được luồn qua đó (Hình 3). Vòng di chuyển xuống rất chậm, làm giảm phần treo "làm việc" của con lắc. Để giải quyết trọn vẹn bài toán thú vị này, chúng ta sẽ thiết lập phương trình động lực học của dao động, điều kiện cần thiết cho việc mô phỏng trên máy tính.

Con lắc Rayleigh-Lorentz
Hình 3: Con lắc toán học với vòng trơn di chuyển dần theo phương thẳng đứng.

Mối liên hệ giữa hệ tọa độ Descartes và góc lệch có dạng: \begin{align} x &= l \sin \varphi \\ y &= l(1 - \cos \varphi) \end{align}

Đạo hàm theo thời gian (giả sử chiều dài sợi dây thay đổi đều với vận tốc $u$): \begin{align} x' &= l' \sin \varphi + l \cos \varphi \cdot \varphi' \\ y' &= l'(1 - \cos \varphi) + l \sin \varphi \cdot \varphi' \\ x'' &= 2l' \cos \varphi \cdot \varphi' - l \sin \varphi \cdot \varphi'^2 + l \cos \varphi \cdot \varphi'' \\ y'' &= 2l' \sin \varphi \cdot \varphi' + l \cos \varphi \cdot \varphi'^2 + l \sin \varphi \cdot \varphi'' \end{align}

Các phương trình động lực học trong hệ tọa độ Descartes: \begin{align} m(2l' \cos \varphi \cdot \varphi' - l \sin \varphi \cdot \varphi'^2 + l \cos \varphi \cdot \varphi'') &= -T \sin \varphi \\ m(2l' \sin \varphi \cdot \varphi' + l \cos \varphi \cdot \varphi'^2 + l \sin \varphi \cdot \varphi'') &= T \cos \varphi - mg \end{align}

Sau khi giải hệ này (nhân phương trình đầu với $\cos \varphi$, phương trình thứ hai với $\sin \varphi$ rồi cộng lại), ta nhận được phương trình động lực học cho góc lệch: $$ \varphi'' = -\frac{g}{l_0 - ut} \sin \varphi - 2\frac{u\varphi'}{l_0 - ut} $$

Phương trình vi phân này là phi tuyến (do hàm sin). Với các dao động nhỏ, nó được đơn giản hóa thành: $$ \varphi''(t) = -\frac{g}{l_0 - ut}\varphi - 2\frac{u\varphi'}{l_0 - ut} $$

Nhưng đối với học sinh trung học, việc giải (tích phân) nó cũng rất phức tạp. Chúng ta sẽ vòng qua sự phức tạp bằng máy tính (giải bằng phương pháp số). Trên hai đồ thị (Hình 4) trình bày kết quả mô phỏng trên máy tính (trong hệ thống Mathcad). Đồ thị đầu tiên biểu diễn sự phụ thuộc của góc lệch vào thời gian, đồ thị thứ hai biểu diễn sự phụ thuộc của vận tốc góc vào thời gian. Trong thời gian 40 dao động, chiều dài sợi dây của con lắc giảm đi 2 lần. Einstein đã (như thường lệ) đúng. Máy tính đã xác nhận sự bảo toàn của bất biến ($\frac{E}{\omega} = \text{inv}$) với độ chính xác 0,1% (ở đây sai số là điều tất yếu do tính rời rạc của các phép toán và tính phi tuyến của dao động).

Đồ thị mô phỏng sự phụ thuộc của góc lệch và vận tốc góc
Hình 4: Đồ thị mô phỏng sự phụ thuộc của góc lệch (trên) và vận tốc góc (dưới) theo thời gian.

Bây giờ chúng ta sẽ lặp lại một cách chứng minh bất biến này, với quyền tác giả được gán cho huân tước Rayleigh - người có thẩm quyền vĩ đại nhất trong lý thuyết dao động, mà nghiên cứu của ông về con lắc này Lorentz đã "không chú ý" tới. Khi chứng minh, chúng ta sẽ giới hạn ở các biên độ dao động nhỏ.

Khi hạ từ từ vòng trơn xuống (hoặc giữ nó), cần một lực mà độ lớn thành phần thẳng đứng của nó được xác định bởi lực căng của sợi dây và góc lệch của nó so với phương thẳng đứng (Hình 5): $$ F = T(1 - \cos \varphi) \approx T\frac{\varphi^2}{2} $$

Sơ đồ lực tác dụng lên con lắc
Hình 5: Lực tác dụng lên sợi dây tại điểm treo.

Ở các góc lệch nhỏ, dao động là điều hòa: $$ \varphi = \varphi_0 \sin \omega t $$ $$ F = T\frac{\varphi_0^2}{2} \sin^2 \omega t = T\frac{\varphi_0^2}{4}(1 - \cos 2\omega t) $$

Rõ ràng là, giá trị trung bình của lực trong một chu kỳ dao động bằng (tính đến việc ở dao động nhỏ $T \approx mg$ và tích phân của hàm cosin bằng 0): $$ \overline{F} = mg\frac{\varphi_0^2}{4} $$

Công để di chuyển vòng bằng sự thay đổi năng lượng của dao động. Phương trình này ở dạng vi phân có dạng: $$ mg\frac{\varphi_0^2}{4}(-dl) = dE $$

Chia phương trình này cho biên độ thế năng của dao động: $$ E = mgl\frac{\varphi_0^2}{2} $$ $$ -\frac{1}{2}\frac{dl}{l} = \frac{dE}{E} $$

Sau khi tích phân, ta nhận được bất biến: $$ E\sqrt{l} = \text{inv} $$

Tính đến công thức chu kỳ dao động: $$ T = 2\pi\sqrt{\frac{l}{g}} $$ và công thức $T = \frac{2\pi}{\omega}$, bất biến có thể được viết dưới dạng như Einstein đã dự đoán: $$ ET \rightarrow \frac{E}{\omega} = \text{inv} $$

Bây giờ - hình ảnh truyền thống của dao động trong không gian pha. Khi chiều dài con lắc không đổi, năng lượng dao động được bảo toàn. Định luật bảo toàn này đối với các biên độ dao động nhỏ được viết bằng công thức (trong các biến góc $p_\varphi = ml^2\varphi'$ -

mô-men động lượng của quả cầu con lắc đối với điểm treo) $$ E = ml^2\frac{\varphi'^2}{2} + mgl\frac{\varphi^2}{2} $$

Biểu thức này có thể được biến đổi về dạng chính tắc của phương trình elip: $$ \frac{p_\varphi^2}{2ml^2E} + \frac{\varphi^2}{2E/(mgl)} = 1 $$ Các bán trục của elip: \begin{align} a &= \sqrt{\frac{2E}{mgl}} \\ b &= \sqrt{2ml^2E} \end{align}

Thú vị nhất là độ lớn diện tích giới hạn bởi đường cong elip, nó chính bằng bất biến: $$ S = \pi ab = E \cdot 2\pi\sqrt{\frac{l}{g}} = ET = \text{inv} $$

Trên Hình 6 biểu diễn quỹ đạo pha của năm dao động.

Quỹ đạo pha của con lắc khi chiều dài thay đổi
Hình 6: Quỹ đạo trong không gian pha của con lắc khi chiều dài thay đổi liên tục.

Khi thay đổi chiều dài con lắc, quỹ đạo không còn là đường cong kín. Ở đây để dễ hình dung, tốc độ thay đổi chiều dài con lắc được làm cho lớn lên. Trong thời gian các dao động này, chiều dài con lắc giảm đi một nửa. Nhưng ngay cả với tốc độ thay đổi chiều dài con lắc như vậy, độ lớn diện tích (được quét bởi sợi dây) trong một chu kỳ chuyển động vẫn bất biến.

Bây giờ là một bài toán với sự ngạc nhiên về đoạn nhiệt.

Bài toán 3. Việc khối lượng không đổi dẫn đến điều gì

Vật nặng của con lắc lò xo nằm ngang là một bình hình trụ chứa chất lỏng (Hình 7; thể tích bình được chia bằng các vách ngăn thẳng đứng để ngăn chặn dao động của mức chất lỏng). Hệ số đàn hồi của lò xo bằng $k$. Trời đang mưa rào nhỏ theo phương thẳng đứng, và khối lượng của bình chứa nước tăng lên với tốc độ khối lượng không đổi rất nhỏ $\mu$.

Tại thời điểm ban đầu, biên độ vận tốc dao động bằng $v_0$, khối lượng bình chứa chất lỏng bằng $m_0$. Hãy xác định các thông số dao động của con lắc (chu kỳ, biên độ) sau thời gian $t \gg T$. Kết quả sẽ thay đổi ra sao nếu khối lượng giảm từ từ với cùng tốc độ $\mu$ (do bốc hơi hoặc chảy qua một lỗ nhỏ ở đáy bình)?

Con lắc lò xo nằm ngang với bình chứa chất lỏng
Hình 7: Con lắc lò xo nằm ngang mang bình chứa chất lỏng.

Để thiết lập bất biến, ta sử dụng các phương trình động lực học và năng lượng: \begin{align} -kx &= \frac{d}{dt}(mv) = \mu v + m\frac{dv}{dt} \\ E &= m\frac{v^2}{2} + k\frac{x^2}{2} \end{align}

Viết sự thay đổi năng lượng: $$ \frac{dE}{dt} = \mu\frac{v^2}{2} + mv\frac{dv}{dt} + kxv $$

Sử dụng phương trình động lực học, ta triệt tiêu $kx$: $$ \frac{dE}{dt} = \mu\frac{v^2}{2} + mv\frac{dv}{dt} - \left(\mu v + m\frac{dv}{dt}\right)v $$

Sau khi biến đổi, ta nhận được: $$ \frac{dE}{dt} = -\mu\frac{v^2}{2} $$

Vận tốc của bình chứa chất lỏng trong một chu kỳ dao động riêng lẻ có thể được coi là thay đổi theo định luật điều hòa: $$ v = v_0 \sin\left(\sqrt{\frac{k}{m}}t\right) $$

Thay biểu thức này vào công thức thay đổi năng lượng: \begin{align} dE &= -\mu dt \frac{v_0^2}{2} \sin^2\left(\sqrt{\frac{k}{m}}t\right) \\ &= -\mu dt \frac{v_0^2}{2} \cdot \frac{1}{2} \left(1 - \cos\left(2\sqrt{\frac{k}{m}}t\right)\right) \end{align}

Từ đây, bỏ qua các phép toán tích phân trong khoảng thời gian $T$ của một chu kỳ dao động, ta nhận được: $$ \Delta E = -\mu\frac{v_0^2/2}{2}T = \frac{-\mu T}{2(m_0 + \mu t)}m\frac{v_0^2}{2} $$ hoặc (sau khi chia cho biên độ động năng): $$ \frac{\Delta E}{E} = \frac{-\mu}{2(m_0 + \mu t)}T $$

Phương trình này có thể được viết dưới dạng vi phân (coi sự thay đổi năng lượng và thời gian là những đại lượng nhỏ: $\Delta E \rightarrow dE$, $T \rightarrow dt$): $$ \frac{dE}{E} = \frac{-\mu dt}{2(m_0 + \mu t)} $$

Sau khi lấy tích phân, ta nhận được bất biến quen thuộc: \begin{align} \ln\frac{E}{E_0} &= -\frac{1}{2}\ln\frac{m_0 + \mu t}{m_0} \\ \frac{E_0}{E} &= \sqrt{1 + \frac{\mu t}{m_0}} = \frac{\sqrt{m}}{\sqrt{m_0}} \rightarrow E\sqrt{m} \rightarrow ET = \text{inv} \end{align}

Từ đây, ta tìm được các hệ thức cho biên độ: $$ \frac{x}{x_0} = \left(\frac{m_0}{m}\right)^{1/4}, \quad \frac{v}{v_0} = \left(\frac{m_0}{m}\right)^{3/4}, \quad \frac{p}{p_0} = \left(\frac{m}{m_0}\right)^{1/4} $$

Hình ảnh mô phỏng dao động trong không gian pha trên máy tính (Hình 8) xác nhận các hệ thức này. Biên độ dao động giảm, biên độ động lượng tăng, tích các biên độ là bất biến.

Quỹ đạo pha của con lắc lò xo thay đổi khối lượng
Hình 8: Sự thay đổi trong không gian pha của con lắc khi khối lượng tăng dần.

Tiếp tục bài toán này, ta xét sự thay đổi khối lượng con lắc mang dấu ngược lại (giả sử sự mất mát khối lượng xảy ra do bốc hơi). Có vẻ như ta chỉ cần đổi dấu đại lượng $\mu$ ở phần trước của bài toán. Khi đó các công thức về hệ thức biên độ sẽ được giữ nguyên, và bất biến cũng không thay đổi. Nhưng hãy chú ý và xem xét phương trình động lực học vốn đúng trong quá trình thiết lập bất biến trước đó: $$ m\frac{dv}{dt} = -kx - \mu v $$

Khi đổi dấu $\mu$, ở vế phải sẽ xuất hiện lực phản ứng, điều không thể xảy ra khi mất khối lượng do bay hơi. Điều đúng đắn sẽ là như sau. Chất lỏng bay hơi mang theo động năng khỏi hệ. Sự giảm năng lượng này trong một khoảng thời gian nhỏ có thể được viết dưới dạng: $$ dE = -\mu dt \frac{v^2}{2} $$

Tiếp theo, ta viết phương trình vi phân có sẵn cho sự thay đổi tương đối của năng lượng: $$ \frac{dE}{E} = \frac{-\mu dt}{2(m_0 - \mu t)} $$

Dấu "trừ" ở mẫu số làm thay đổi kết quả tích phân so với trường hợp tăng khối lượng: $$ \ln\frac{E}{E_0} = \frac{1}{2}\ln\frac{m_0 - \mu t}{m_0} $$

Cuối cùng ta thu được: $$ \frac{E}{E_0} = \sqrt{1 - \frac{\mu t}{m_0}} = \frac{\sqrt{m}}{\sqrt{m_0}} \rightarrow \frac{E}{\sqrt{m}} \rightarrow \frac{E}{T} \rightarrow E\omega = \text{inv} $$

Thật thú vị là bất biến trong trường hợp này lại không theo chuẩn (ngược lại với bất biến của Einstein). Các hệ thức cho biên độ có dạng: $$ x = x_0\left(\frac{m}{m_0}\right)^{1/4}, \quad v = v_0\left(\frac{m_0}{m}\right)^{1/4}, \quad p = p_0\left(\frac{m}{m_0}\right)^{3/4} $$

Quỹ đạo pha khi khối lượng giảm do bay hơi
Hình 9: Quỹ đạo trong không gian pha của con lắc khi khối lượng giảm do sự bay hơi.

Quỹ đạo dao động mô phỏng trên máy tính trong không gian pha (Hình 9) cho thấy diện tích elip không được bảo toàn (nó giảm tỷ lệ thuận với khối lượng, quỹ đạo pha bị "co lại").

Lời giải bài toán 3 đã hoàn thành.

Bây giờ có thể quay lại chủ đề "Bất biến đoạn nhiệt". Các ví dụ đã xét chứng minh tính đúng đắn của định luật sau. Có một hệ vật lý ở chế độ của một quá trình tuần hoàn, chu kỳ $T$ của quá trình này được xác định bởi tham số $\lambda$. Khi thay đổi chậm tham số này $\left(\frac{d\lambda}{dt}T \ll \lambda\right)$, đối với hệ như vậy có thể tồn tại một cái gọi là bất biến đoạn nhiệt, độ lớn của nó được xác định bằng tích phân theo đường cong khép kín của một chu kỳ của quỹ đạo pha: $$ I = \frac{1}{2\pi}\oint p dq $$

Diện tích quét bởi bán kính véc-tơ trên quỹ đạo pha
Hình 10: Diện tích quét bởi bán kính véc-tơ khi quay một góc pha $2\pi$.

Ở đây $p$ và $q$ tương ứng là động lượng tổng quát và tọa độ tổng quát của hệ một chiều trong quá trình chuyển động của nó. Khi thay đổi tham số $\lambda$, quỹ đạo pha không còn là đường cong kín nữa. Tích phân, sau đây gọi là bất biến pha, với độ chính xác đến hằng số $1/(2\pi)$, bằng diện tích được quét bởi bán kính véc-tơ khi quay một góc pha $2\pi$ (Hình 10). Đối với các hệ ở chế độ dao động điều hòa, bất biến có thể được biểu diễn bằng công thức mà chúng ta sẽ gọi là công thức Einstein: $$ \frac{E}{\omega} = ET = \text{inv} $$

Nhưng cần cẩn thận với niềm tin vào sự tồn tại của bất biến chuẩn. Điều này đã được chỉ ra bởi bài toán con lắc lò xo với khối lượng bay hơi, nơi tham số (khối lượng) thay đổi mà không có tác động bên ngoài.

Tên gọi "bất biến đoạn nhiệt" do Paul Ehrenfest đưa ra. Nguyên nhân của tên gọi này không chỉ nằm ở sự chậm chạp, và theo đó là tính cân bằng của quá trình. Quá trình đoạn nhiệt là quá trình không có trao đổi nhiệt với bên ngoài. Năng lượng trung bình cho một hệ nhiệt động lượng tử có thể được viết qua xác suất $p_i$ của các trạng thái năng lượng $E_i$ có thể có: $$ \overline{E} = \sum_{i=1}^{N} E_i p_i $$

Vi phân năng lượng được phân tách thành hai tổng tương ứng với định luật một nhiệt động lực học: $$ d\overline{E} = \sum_{i=1}^{N} dE_i p_i + \sum_{i=1}^{N} E_i dp_i = \delta A + \delta Q $$

Từ đây thấy rằng, "nhiệt lượng" (số hạng thứ hai) chịu trách nhiệm cho sự thay đổi xác suất của các mức năng lượng, còn sự hiện diện của "công" (số hạng thứ nhất) dẫn đến sự thay đổi của phổ năng lượng.

Trong quá trình đoạn nhiệt, hệ không thay đổi trạng thái lượng tử. Bất biến (bổ sung cho bất biến pha) là tham số xác định trạng thái lượng tử. Một minh họa tốt cho nhận định này là bài toán của Rayleigh về bất biến đoạn nhiệt của dây đàn.

Bài toán 4. Dây đàn Rayleigh

Giả sử một sợi dây đàn bị kéo căng thực hiện các dao động nhỏ ở chế độ của mode thứ hai. Chiều dài sợi dây bằng bước sóng (hai bụng sóng; Hình 11). Đầu bên trái của dây được luồn qua một cái vòng (đường kính của dây nhỏ hơn đường kính trong của vòng một chút). Vòng di chuyển rất chậm sang phải dọc theo trục $x$, làm thay đổi chiều dài làm việc của dây. Hãy xác định sự thay đổi biên độ dao động khi chiều dài dây giảm đi một nửa. Coi như đã biết các đại lượng sau: $\rho$ là mật độ khối lượng dài của dây (khối lượng trên một đơn vị chiều dài), $f$ là lực căng dây, $y_0$ là biên độ dao động ban đầu.

Sơ đồ dao động của dây đàn Rayleigh
Hình 11: Dây đàn dao động ở mode thứ hai với một đầu luồn qua vòng.

Trước tiên, ta đưa ra một lưu ý quan trọng. Khi thay đổi chiều dài dây một cách đoạn nhiệt, các dao động của nó (cùng với sự thay đổi tần số và có thể cả biên độ) vẫn sẽ ở chế độ của mode thứ hai. Số $n=2$ sẽ là một bất biến.

Bây giờ chúng ta sẽ trình bày phép chứng minh (thiết lập) bất biến Rayleigh. Hãy nhớ lại các công thức cơ bản của vật lý về dao động của dây đàn. Vận tốc truyền sóng, bước sóng, chu kỳ dao động ở mode $n$ tương ứng bằng: $$ v = \sqrt{\frac{f}{\rho}} $$ $$ \lambda = 2\frac{l}{n} = vT $$ $$ T = \frac{2l}{n}\sqrt{\frac{\rho}{f}} $$

Dao động của các điểm trên dây (ở trạng thái mode $n$) được mô tả bởi hàm phụ thuộc tọa độ và thời gian: $$ y(x,t) = y_0 \sin\left(\frac{n\pi}{l}x\right) \cdot \sin\left(\frac{2\pi}{T}t\right) $$

Lực di chuyển (hoặc giữ) vòng phụ thuộc vào góc nghiêng của dây tại điểm $0$, góc này thay đổi theo thời gian. Ở các dao động nhỏ: $$ F(t) = f(1 - \cos\varphi(t)) \approx f\frac{\varphi^2}{2} $$

Giá trị trung bình của lực trong một chu kỳ dao động (coi lực căng dây ở các dao động nhỏ là một đại lượng không đổi): $$ \overline{F} = f\frac{\overline{\varphi^2}}{2} $$

Góc nghiêng được xác định bằng đạo hàm (tại $x=0$): \begin{align} \tan\varphi &= \frac{dy}{dx} \approx \varphi(t) \\ &= y_0\frac{n\pi}{l}\cos\left(\frac{n\pi}{l}x\right) \cdot \sin\left(\frac{2\pi}{T}t\right) \\ &= y_0\frac{n\pi}{l}\sin\left(\frac{2\pi}{T}t\right) \end{align}

Giá trị trung bình của bình phương góc lệch: $$ \overline{\varphi^2} = \frac{\varphi_0^2}{2} = \frac{1}{2}\left(y_0\frac{n\pi}{l}\right)^2 $$

Do đó, lực trung bình bằng: $$ \overline{F} = \frac{f}{4}\left(y_0\frac{n\pi}{l}\right)^2 $$

Công sơ cấp khi di chuyển vòng (dấu "trừ" tính đến sự giảm chiều dài): $$ dA = dE = -\frac{f}{4}\left(y_0\frac{n\pi}{l}\right)^2 dl $$

Tiếp theo, chúng ta cần công thức năng lượng dao động. Động năng của một phần tử dây: $$ dE_k = \rho dx \frac{y'^2}{2} = \frac{\rho dx}{2}\left(y_0 \cdot \frac{2\pi}{T}\sin\left(\frac{n\pi}{l}x\right) \cdot \cos\left(\frac{2\pi}{T}t\right)\right)^2 $$

Lấy tích phân theo tọa độ $x$, ta nhận được: $$ E(t) = \frac{\rho}{2}\left(y_0 \cdot \frac{2\pi}{T}\right)^2 \frac{l}{2} \cos^2\left(\frac{2\pi}{T}t\right) $$

Biên độ của động năng chính là nhân tử đứng trước bình phương của cosin, tức là: $$ E_0 = \frac{\rho}{2}\left(y_0 \cdot \frac{2\pi}{T}\right)^2 \frac{l}{2} $$

Chia công sơ cấp cho biên độ năng lượng, ta nhận được phương trình vi phân: $$ \frac{dE}{E} = -\frac{n^2}{4}\frac{fT^2}{\rho l^3} dl $$

Thế bình phương của chu kỳ vào đây sẽ làm đơn giản phương trình này: $$ \frac{dE}{E} = -\frac{dl}{l} $$

Sau khi lấy tích phân, ta thu được bất biến Rayleigh (Einstein): $$ El \rightarrow ET \rightarrow \frac{E}{\omega} = \text{inv} $$

Ta tìm được câu trả lời cho bài toán khi thay chu kỳ vào biên độ năng lượng: $$ E = \left(\frac{\pi}{2}y_0\right)^2 \frac{f}{l}n^2 \rightarrow El = \left(\frac{\pi}{2}y_0\right)^2 f n^2 = \text{inv} $$

Thật đáng ngạc nhiên là khi thay đổi chậm (đoạn nhiệt) chiều dài dây, mode dao động (số lượng tử $n$) và biên độ dao động vẫn được bảo toàn. Quỹ đạo pha còn gây ngạc nhiên hơn nữa. Về mặt hình thức, tổng động lượng của dây ở các mode chẵn bằng không, do đó quỹ đạo pha cần được xác định cho vùng giới hạn bởi hai nút liên tiếp. Động lượng của vùng dao động như vậy bằng: \begin{align} p(t) &= \rho\int_0^{l/n} y(x,t) dx \\ &= \rho y_0 \cdot \frac{2\pi}{T}\cos\left(\frac{2\pi}{T}t\right) \cdot \int_0^{l/n} \sin\left(\frac{n\pi}{l}x\right) dx \end{align}

Sau khi tích phân và biến đổi, ta nhận được động lượng của vùng dao động: $$ p(t) = 2ny_0\sqrt{\rho f}\cos\left(\frac{2\pi}{T}t\right) $$

Biên độ động lượng tỷ lệ thuận với biên độ dao động, do đó nó cũng là bất biến. Kết quả là, quỹ đạo pha của vùng dao động của dây khi giảm chậm chiều dài của nó không thay đổi và vẫn là một đường cong elip khép kín đơn giản.

Bây giờ là một ví dụ nữa về bất biến đoạn nhiệt đối với hệ dao động không điều hòa (ví dụ đơn giản nhất đã được xét ở bài toán đầu tiên). Chúng ta sẽ coi nó là ví dụ của Ehrenfest (chủ đề phi tuyến đã được thảo luận trong một trong những công trình của ông).

Bài toán 5. Châu chấu hấp dẫn kiên cường

Một "châu chấu hấp dẫn" thẳng đứng được làm cho nghiêng nhờ cấu trúc trình bày trên Hình 12. Mặt phẳng nghiêng nhẵn có một bậc phản xạ ở phần dưới. Một quả cầu nhỏ thực hiện các lần rơi tuần hoàn theo chiều dọc, phản xạ đàn hồi từ bậc này.

Tại thời điểm ban đầu, mặt phẳng nghiêng góc $\varphi$ so với phương thẳng đứng, chiều cao rơi của quả cầu là $H$. Người ta bắt đầu giảm rất chậm góc nghiêng của mặt phẳng. Hãy xác định biên độ chiều cao dao động của quả cầu tại thời điểm mặt phẳng ở vị trí thẳng đứng.

Mô hình châu chấu hấp dẫn nghiêng
Hình 12: Mặt phẳng nghiêng có bậc phản xạ và các lực tác dụng lên quả cầu.

Lời giải của một học sinh trung học thông minh và đọc nhiều sách có thể rất súc tích và đẹp mắt. Khoảng như sau.

Đối với các hệ thực hiện chuyển động tuần hoàn với tham số $\lambda$ thay đổi chậm, có thể tồn tại một bất biến đoạn nhiệt, có thể viết dưới dạng: $$ E(\lambda)T(\lambda) = \text{inv} $$

Tích của năng lượng và chu kỳ thời gian của chuyển động được bảo toàn. Ta tin vào sự tồn tại của một bất biến như vậy cho hệ của chúng ta và viết: $$ mg\cos\varphi \cdot H\sqrt{\frac{2H}{g\cos\varphi}} = mgh\sqrt{\frac{2h}{g}} $$

Sau khi biến đổi, ta nhận được mối liên hệ giữa các biên độ độ cao và góc nghiêng của mặt phẳng (bất biến): $$ \left(\frac{h}{H}\right)^3 = \frac{\cos\varphi_0}{\cos\varphi}, \quad \left(\frac{h}{H}\right)^3 \cdot \frac{\cos\varphi}{\cos\varphi_0} = \text{inv} $$

Ở đây $\varphi_0$ là góc nghiêng ban đầu của mặt phẳng. Khi chuyển sang vị trí thẳng đứng của mặt phẳng: $$ \left(\frac{h}{H}\right)^3 = \cos\varphi_0 \tag{*} $$

Kết quả kiểm tra cách giải tích phân (nâng cao) của chúng ta được trình bày bằng hai đồ thị (Hình 13): tọa độ và vận tốc (đồ thị của 5-6 dao động cuối cùng, biên độ ban đầu được đặt bằng 1). Mô phỏng được thực hiện cho 40 chu kỳ chuyển động. Bước thời gian rời rạc là $1/1000$ thời gian rơi ban đầu của quả cầu. Với góc nghiêng ban đầu -

nghiêng 60°, ta nhận được kết quả sau: giá trị lý thuyết của lập phương tỷ số các biên độ bằng: $$ \left(\frac{H}{h}\right)^3 = \frac{1}{\cos\varphi} = 2 $$

Máy tính cho ra số 2 với ba chữ số 0 sau dấu phẩy: 2,000.

Đồ thị tọa độ và vận tốc của quả cầu
Hình 13: Đồ thị tọa độ $y$ (trái) và vận tốc $v$ (phải) theo thời gian $t$.

Nếu chúng ta không nghi ngờ về sự tồn tại của bất biến đoạn nhiệt (hoặc hoàn toàn không biết nó là gì), thì ta sẽ phải giải bài toán bằng phương pháp năng lượng. Hãy viết biểu thức độ lớn công sơ cấp khi quay mặt phẳng dao động đi một góc nhỏ (tại một thời điểm nào đó, khi quả cầu cách điểm phản xạ một khoảng $x$): $$ dA = -mg \sin\varphi \cdot x d\varphi $$

Ở đây dấu "trừ" tương ứng với sự giảm của góc khi quay. Ta lấy trung bình đại lượng này theo chu kỳ chuyển động (coi góc lệch là không đổi, vì tốc độ quay của mặt phẳng là rất nhỏ). Người ta biết rằng giá trị độ cao trung bình theo thời gian đối với "châu chấu hấp dẫn" bằng $\overline{x} = (2/3)h$ (điều này không khó để chứng minh). Tính đến giá trị này, ta có: $$ d\overline{A} = -\frac{2}{3}mg \sin\varphi \cdot h d\varphi $$

Công này bằng sự thay đổi thế năng cực đại của quả cầu: $$ -\frac{2}{3}mg \sin\varphi \cdot h d\varphi = d(mgh \cos\varphi) = mg(dh \cos\varphi - h \sin\varphi \cdot d\varphi) $$ hoặc $$ 3\frac{dh}{h} = \frac{\sin\varphi}{\cos\varphi}d\varphi $$

Phương trình này dễ dàng được lấy tích phân: $$ 3\int_{H}^{h}\frac{dh}{h} = \int_{\varphi_0}^{0}\frac{\sin\varphi}{\cos\varphi}d\varphi $$ $$ 3 \ln\frac{h}{H} = \ln\cos\varphi_0 $$

Cuối cùng ta nhận được công thức (*).

Bây giờ ta hãy xem xét quỹ đạo pha của chuyển động tuần hoàn đoạn nhiệt này (Hình 14), nó tuân theo phương trình: $$ E = mg \cos\varphi \cdot H\left(\frac{\cos\varphi_0}{\cos\varphi}\right)^{1/3} = \frac{p^2}{2m} + mg \cos\varphi \cdot y $$ hoặc $$ p = \pm m \sqrt{2gH\left((\cos\varphi_0)^{1/3}(\cos\varphi)^{2/3} - \frac{y}{H}\cos\varphi\right)} $$

Quỹ đạo pha của chuyển động tuần hoàn đoạn nhiệt
Hình 14: Quỹ đạo pha của "châu chấu hấp dẫn" khi mặt phẳng tiến dần đến phương thẳng đứng.

Để dễ hình dung, tốc độ quay của mặt phẳng được làm cho khá lớn. Mặt phẳng trở thành thẳng đứng sau khoảng 6 dao động.

Bài toán đã được giải quyết.

(Còn tiếp)

Bây giờ chúng ta lại đi theo Paul Ehrenfest và mở rộng phạm vi các hệ cơ học điều hòa. Hãy xem xét một bài toán điện động lực học ở chế độ dao động điều hòa (nhỏ) và phi tuyến (lớn).

Bài toán 6. Dao động tử bị nén

Hai điện tích dương giống nhau $Q$, nằm cách nhau một khoảng $2l$, được nối với nhau bằng một thanh điện môi mảnh. Trên thanh có luồn một hạt cườm khối lượng $m$ và mang điện tích dương $q$ (Hình 15). Hạt cườm thực hiện dao động quanh vị trí cân bằng với biên độ $x_0$. Từ một thời điểm nào đó, khoảng cách giữa các điện tích bắt đầu giảm xuống rất chậm và đối xứng (hệ bị "nén").

Hãy xác định biên độ dao động của hạt cườm khi khoảng cách giữa các điện tích giảm đi một nửa.

Sơ đồ dao động tử bị nén
Hình 15: Hạt cườm mang điện tích $q$ dao động giữa hai điện tích $Q$.

(Ghi chú của ban biên tập: Phần cuối. Phần đầu đã đăng ở số tạp chí trước.)

Đầu tiên, ta xét hệ ở chế độ dao động điều hòa nhỏ. Trong trường hợp này, đối với hệ phải tồn tại bất biến đoạn nhiệt Einstein. Lực tác dụng lên hạt cườm: \begin{align} F &= -kQq\left(\frac{1}{(l-x)^2} - \frac{1}{(l+x)^2}\right) \\ &= -kQq\frac{4lx}{(l^2-x^2)^2} \approx -\frac{4kQq}{l^3}x \end{align}

Phương trình động lực học: $$ mx'' = -\frac{4kQq}{l^3}x $$

Năng lượng của hệ khi dao động: \begin{align} E &= m\frac{x'^2}{2} + kQq\left(\frac{1}{l+x} + \frac{1}{l-x}\right) \\ &= m\frac{x'^2}{2} + kQq\frac{2l}{l^2-x^2} \end{align}

Tính đến việc $x/l \ll 1$, công thức được biến đổi về dạng toàn phương: $$ E \approx m\frac{x'^2}{2} + 4\frac{kQq}{l^3}\frac{x^2}{2} $$

Ở đây ta đã bỏ qua số hạng $2\frac{kQq}{l}$ xác định thế năng ở vị trí cân bằng (nó không tham gia vào động lực học của dao động). Tốc độ thay đổi năng lượng của hệ trong một khoảng thời gian nhỏ (ở chế độ "nén"): $$ \frac{dE}{dt} = mx'x'' + 4\frac{kQq}{l^3}xx' - 4\frac{kQq}{l^4}\cdot\frac{3}{2}x^2l' $$

Căn cứ vào phương trình động lực học, hai số hạng đầu tiên bị triệt tiêu. Kết quả là: $$ \frac{dE}{dt} = -4\frac{kQq}{l^4}\cdot\frac{3}{2}x^2l' $$ hay $$ dE = -4\frac{kQq}{l^4}\cdot\frac{3}{2}x^2l'dt $$

Tích phân của biểu thức này trong một chu kỳ dao động (coi $l, l'$ là không đổi và ở dao động nhỏ $x = x_0 \sin \omega t$): \begin{align} \int_0^T dE &= -4\frac{kQq}{l^4}\cdot\frac{3}{2}l'\int_0^T x_0^2 \sin^2 \omega t \cdot dt \\ &= -4\frac{kQq}{l^4}\cdot\frac{3}{2}l'\frac{x_0^2}{2}\int_0^T (1 - \cos 2\omega t)dt \end{align} $$ \Delta E = -4\frac{kQq}{l^4}\cdot\frac{3}{2}\frac{x_0^2}{2}l'T = -\frac{3kQq}{l^4}x_0^2\frac{\Delta l}{T}T = -\frac{3kQq}{l^4}x_0^2\Delta l $$

Quỹ đạo pha và bất biến của dao động nhỏ
Hình 16: Đồ thị quỹ đạo pha và bất biến cho dao động điều hòa nhỏ (hàng trên) và dao động phi tuyến lớn (hàng dưới).

Kết quả có thể được viết dưới dạng vi phân: $$ dE = -\frac{3kQq}{l^4}x_0^2dl $$

Sau khi chia cho biên độ thế năng: $$ \frac{dE}{E} = -\frac{3kQqx_0^2}{l^4 \cdot 4\frac{kQq}{l^3}\frac{x_0^2}{2}}dl = -\frac{3}{2}\frac{dl}{l} $$

Lấy tích phân dẫn đến bất biến trong gần đúng điều hòa, tức là bất biến Einstein: $$ \ln(El^{3/2}) = \text{inv} \rightarrow El^{3/2} = \text{inv} $$

Ta tìm sự thay đổi biên độ dao động khi nén đi một nửa: $$ x_0^2l_0^{3/2} = x^2\left(\frac{l_0}{2}\right)^{3/2} $$ $$ x = x_0 \cdot 2^{3/4} \approx x_0 \cdot 1,68 $$

Ở các biên độ lớn, dao động trở nên phi tuyến và sự tồn tại của bất biến chung (bất biến pha) chỉ có thể được kiểm tra bằng máy tính. Các đồ thị (Hình 16) minh họa cho sự kiểm tra này. Hai đồ thị đầu tiên (quỹ đạo pha và bất biến Einstein) liên quan đến các dao động với biên độ nhỏ (chế độ dao động điều hòa). Cặp đồ thị tương tự thứ hai liên quan đến các dao động với biên độ lớn. Ở đây quỹ đạo pha chỉ gợi nhớ đến hình elip và bất biến Einstein như dự kiến là không được bảo toàn. Nhưng bất biến pha (diện tích được quét bởi bán kính véc-tơ pha khi quay một góc $2\pi$) được bảo toàn với độ chính xác cao.

Bài toán tiếp theo nên được đặt tên theo Hannes Alfvén, nhà vật lý người Thụy Điển, người đoạt giải Nobel vật lý năm 1970 cho các công trình trong lĩnh vực từ thủy động lực học.

Bài toán 7. Mô-men từ của điện tích

Một hạt có khối lượng $m$ và điện tích $q$ quay với vận tốc $v$ theo một quỹ đạo tròn trong từ trường không đổi có cảm ứng từ $B$ (Hình 17). Tại một thời điểm nào đó,cảm ứng của từ trường bắt đầu tăng đều rất chậm. Hãy xác định sự thay đổi của các thông số chuyển động khi cảm ứng từ tăng $n$ lần.

Chuyển động của điện tích trong từ trường
Hình 17: Hạt mang điện tích chuyển động tròn trong từ trường và sự xuất hiện của điện trường xoáy.

Phương trình động lực học được xác định bởi lực Lorentz: $$ qvB = m\frac{v^2}{R} $$ Lực này trực giao với vận tốc chuyển động của hạt và không thể làm thay đổi năng lượng của nó. Nhưng sự thay đổi cảm ứng của từ trường dẫn đến sự xuất hiện của điện trường xoáy, công của nó dọc theo một đường cong kín (khác với điện trường tĩnh) là khác không. Ở mức độ vật lý phổ thông, công này có thể được xác định như sau: khi từ thông xuyên qua một vật dẫn kín thay đổi, trong vật dẫn sẽ xuất hiện suất điện động cảm ứng $$ \epsilon = -\frac{\partial\Phi}{\partial t} $$

Tiếp theo, chúng ta phải tin rằng công thức này cũng sẽ đúng đối với một quỹ đạo kín (không có sự hiện diện của vật dẫn) mà hạt mang điện chuyển động trên đó. Khi đó, điện trường trong một chu kỳ quay của hạt sẽ thực hiện một công $$ \Delta A = \epsilon q $$ hoặc $$ \Delta A = \pi R^2\frac{\Delta B}{T}q = \pi R^2\frac{\Delta B}{2\pi R/v}q = \frac{q}{2}vR\Delta B $$

Công này bằng sự thay đổi động năng: $$ \frac{q}{2}vR\Delta B = mv\Delta v $$ hoặc, sử dụng phương trình động lực học , $$ \frac{1}{2}\frac{\Delta B}{B} = \frac{\Delta v}{v} $$

Khi thay đổi rất chậm cảm ứng từ, phương trình này có thể được viết dưới dạng vi phân: $$ \frac{1}{2}\frac{dB}{B} = \frac{dv}{v} $$

Sau khi lấy tích phân, ta nhận được công thức của bất biến ở các dạng khác nhau (tổ hợp từng cặp từ ba thông số $B, v, R$): $$ \frac{\sqrt{B}}{v} \rightarrow \frac{B}{v^2} \rightarrow \pi R^2 B \rightarrow vR = \text{inv} $$

Ở đây thật thú vị khi lưu ý bất biến $\pi R^2 B = \Phi$ - sự bảo toàn của giá trị quỹ đạo của từ thông xuyên qua quỹ đạo của hạt. Bất biến $vR$ bổ sung cho công thức mô-men từ của điện tích - mô-men từ của vòng dây mang dòng điện (một đại lượng véc-tơ) được xác định bằng công thức $$ \vec{p}_m = i\vec{S} $$ trong đó $\vec{S}$ - véc-tơ diện tích bề mặt "căng" trên mạch điện (hướng của véc-tơ được xác định bằng quy tắc đinh ốc phải). Mô-men từ xác định năng lượng tương tác của dòng điện với từ trường qua tích vô hướng của các véc-tơ: $W = -\vec{p}_m \cdot \vec{B}$. Tương tự, ta có thể xác định mô-men từ cho một điện tích chuyển động theo quỹ đạo tròn (dưới dạng vô hướng): $$ p_m = \frac{q}{2\pi R/v}\pi R^2 = \frac{q}{2}vR $$

Từ công thức này thấy rằng, bất biến $vR$ chính là bất biến của mô-men từ của điện tích trong từ trường.

Vấn đề về quỹ đạo pha trong bài toán này chúng ta sẽ phải bỏ qua (quá phức tạp). Nhưng vật lý của bài toán tiếp theo lại đơn giản, dù toán học khá phức tạp.

Bài toán 8. Biến thể thẳng đứng của bài toán đầu tiên

Một quả cầu nhỏ chuyển động theo phương thẳng đứng, phản xạ đàn hồi từ mặt phẳng ngang bên dưới (Hình 18). Ở điểm cao nhất của quỹ đạo, quả cầu vừa chạm vào bề mặt ngang của một tấm bản nặng. Tại thời điểm bật nảy tiếp theo của quả cầu từ mặt phẳng dưới, tấm bản phía trên bắt đầu chuyển động xuống dưới với một vận tốc không đổi rất nhỏ. Vận tốc của quả cầu (tại thời điểm bật nảy từ mặt phẳng dưới) sẽ thay đổi bao nhiêu lần khi khoảng cách giữa các mặt phẳng giảm đi một nửa?

Quả cầu phản xạ giữa hai mặt phẳng ngang
Hình 18: Quả cầu dao động giữa mặt sàn cố định và tấm bản đang chuyển động xuống.

Chúng ta đã xem xét biến thể nằm ngang của bài toán này (bài toán 1), khi vật nhỏ (quả cầu) chuyển động trên một bề mặt ngang nhẵn giữa hai bức tường thẳng đứng, một trong số đó nén hệ rất chậm. Khi nén hệ, tích $xv = \text{inv}$ được bảo toàn.

Kết quả này tương ứng với bất biến đoạn nhiệt Einstein (mặc dù dao động không phải là điều hòa): $$ E(x)T(x) = \text{inv} \rightarrow m\frac{v^2}{2}\frac{2x}{v} \rightarrow xv = \text{inv} $$

Trong bài toán này (do toán học phức tạp), chúng ta sẽ không thiết lập công thức bất biến đoạn nhiệt bằng phương pháp năng lượng truyền thống. Ta sẽ coi như tồn tại một bất biến pha chung: $$ I = \frac{1}{2\pi}\oint pdq = \frac{1}{2\pi}\oint p(x)dx $$

Để tính toán nó, ta tìm sự phụ thuộc của động lượng ban đầu, tức là động lượng tại thời điểm phản xạ từ mặt phẳng dưới, vào tọa độ thẳng đứng (sự phụ thuộc này có thể nhận được từ định luật bảo toàn năng lượng): $$ mv = p = m\sqrt{v_0^2 - 2gx} = p_0\sqrt{1 - 2gx/v_0^2} $$

Thay hàm này vào tích phân của bất biến (coi quỹ đạo là khép kín): \begin{align} I &= \frac{1}{2\pi} \cdot 2p_0 \int_0^h \sqrt{1 - 2gx/v_0^2} dx \\ &= -\frac{1}{3\pi}m\frac{v_0^3}{g}\left(1 - \frac{2gx}{v_0^2}\right)^{3/2}\Bigg|_0^h \\ &= \frac{1}{3\pi}m\frac{v_0^3}{g}\left(1 - \left(1 - \frac{2gh}{v_0^2}\right)^{3/2}\right) \end{align}

Bây giờ có thể trả lời câu hỏi của bài toán. Viết đẳng thức các bất biến: $$ v^3\left(1 - \left(1 - \frac{2gh}{v^2}\right)^{3/2}\right) = v_0^3\left(1 - \left(1 - \frac{2gh_0}{v_0^2}\right)^{3/2}\right) $$

Sử dụng các điều kiện ban đầu và cuối: $2h = h_0$, $2gh_0 = v_0^2$ và đưa vào biến tương đối $v/v_0 = u$, ta nhận được một phương trình khá rắc rối cho nó: $$ u^3\left(1 - \left(1 - \frac{1}{2u^2}\right)^{3/2}\right) = 1 $$

Phương trình này phức tạp, nhưng nó được giải khá đơn giản bằng phương pháp số (phương pháp lặp). Để giải phương trình, ta biến đổi nó về dạng: $$ u = \frac{1}{\left(1 - \left(1 - \frac{1}{2u^2}\right)^{3/2}\right)^{1/3}} $$

Bảng giá trị lặp và quỹ đạo pha
Hình 19: Bảng giá trị các phép lặp (trái) và hình ảnh quỹ đạo pha (phải).

Khi giảm chiều cao của mặt phẳng phản xạ đi một nửa, năng lượng của hệ không thể tăng quá mạnh. Nếu giả sử năng lượng tăng lên 2 lần, thì vận tốc tăng $\sqrt{2}$ lần. Lấy đây làm giá trị ban đầu của đại lượng cần tìm, thay vào vế phải của phương trình cho $u$. Phép tính dẫn đến đại lượng tiếp theo, là xấp xỉ bậc một của đại lượng cần tìm. Phép lặp (quy trình tính toán) được lặp lại. Ta đưa ra bảng giá trị của các phép lặp liên tiếp (Hình 19 bên trái). Có thể thấy rằng với độ chính xác ba chữ số sau dấu phẩy, nghiệm được nhận ở bước lặp thứ bảy. Hình ảnh pha truyền thống được đưa ra ở Hình 19 bên phải.

Bây giờ chúng ta hãy quay lại với điện động lực học.

Bài toán 9. Trượt như trên đường ray

Hãy xác định "số phận vật lý" (tính chất và các thông số chuyển động) của hệ (Hình 20), bao gồm một thanh nối siêu dẫn và hai thanh ray, nối với một cuộn dây lý tưởng có độ tự cảm $L$, nếu vuông góc với mặt phẳng của các thanh ray xuất hiện một từ trường tăng tuyến tính $B = B_0(1 + \alpha t)$. Dữ liệu bổ sung: $m$ - khối lượng của thanh nối, $l$ - khoảng cách giữa hai thanh ray.

Hệ thanh nối siêu dẫn trượt trên thanh ray
Hình 20: Sơ đồ thanh kim loại khối lượng $m$ trượt trên hai thanh ray siêu dẫn trong từ trường.

Tại thời điểm ban đầu, tọa độ và vận tốc của thanh nối tương ứng bằng $0$ và $v_0$. Không có ma sát trong hệ. Cuộn cảm được kết nối với đường ray sao cho thanh nối có thể tự do vượt qua điểm không. Tốc độ thay đổi cảm ứng của từ trường $\alpha B_0$ được coi là một đại lượng nhỏ. Hãy tính toán khi cảm ứng từ tăng gấp đôi.

Với giá trị cảm ứng từ không đổi, hệ là một dao động tử điều hòa cơ điện. Từ thông của mạch: $$ \Phi = xlB $$

Suất điện động xuất hiện trong thanh nối: $$ \epsilon = -lBx' $$

Phương trình mạch, dòng điện và lực Ampere: $$ -lBx' + L\frac{di}{dt} = 0, \quad i = \frac{lB}{L}x, \quad F_A = -iBl $$

Phương trình động lực học: $$ mx'' = -\frac{(lB)^2}{L}x, \quad x'' = -\omega^2 x, \quad \omega^2 = \frac{(lB)^2}{mL} $$ là phương trình dao động điều hòa. Chu kỳ dao động được xác định bởi các thông số của hệ: $$ T = \frac{2\pi}{\omega} = 2\pi\frac{\sqrt{mL}}{lB} $$

Biên độ dao động (độ lệch cực đại khỏi điểm không) được xác định bởi vận tốc ban đầu: $$ x_0 = \frac{v_0}{\omega} = v_0\frac{\sqrt{mL}}{lB} $$

Rõ ràng là, đối với hệ này khi từ trường tăng chậm, phải tồn tại bất biến đoạn nhiệt Einstein: \begin{align} I &= \frac{E}{\omega} = \frac{mv_0^2}{2\omega} = \frac{mx_0^2\omega^2}{2\omega} = m\frac{x_0^2}{2}\omega \\ &= m\frac{x_0^2}{2}\frac{lB}{\sqrt{mL}} \rightarrow x_0^2 B \rightarrow \frac{v_0^2}{B} \rightarrow x_0v_0 = \text{inv} \end{align}

Viết các đẳng thức bất biến của trạng thái ban đầu và cuối: $$ x_0^2 B_0 = x^2 B $$ $$ \frac{v_0^2}{B_0} = \frac{v^2}{B} $$

Từ đây ta nhận được sự thay đổi của các biên độ dao động khi từ trường tăng gấp đôi: $$ x = x_0\sqrt{\frac{B_0}{B}} = \frac{x_0}{\sqrt{2}} $$ $$ v = v_0\sqrt{2} $$

Quỹ đạo pha của dao động tử cơ điện
Hình 21: Hình ảnh pha của hệ thanh nối dao động trong từ trường.

Hình ảnh pha của dao động (Hình 21) phù hợp với những thay đổi này.

Hai bài toán tiếp theo gắn liền với tên tuổi của Paul Ehrenfest. Trong một bài báo của mình về lý thuyết lượng tử, ông đã xem xét hai ví dụ về các hệ mà trong đó có thể xảy ra sự vi phạm tính bất biến đoạn nhiệt.

Bài toán 10. Lưỡng cực Ehrenfest

Một lưỡng cực điện thực hiện dao động trong một điện trường đều (Hình 22). Tại một thời điểm nào đó, cường độ điện trường $E$ bắt đầu giảm với một tốc độ không đổi rất nhỏ. Hãy xác định sự thay đổi của các thông số dao động trong thời gian "đảo ngược" cường độ trường (véc-tơ cường độ đổi hướng ngược lại). Coi như đã biết các đại lượng sau: $m$ - khối lượng của các hạt lưỡng cực, $2l$ - chiều dài lưỡng cực, $q$ - độ lớn điện tích, $\varphi_0$ - biên độ dao động ban đầu, $\alpha = \frac{dE}{dt}$ - tốc độ thay đổi cường độ trường.

Lưỡng cực điện trong điện trường
Hình 22: Lưỡng cực điện thực hiện dao động trong điện trường đều $E$.

Ta viết định luật bảo toàn năng lượng khi lưỡng cực dao động trong trường không đổi: $$ W = \frac{p_\varphi^2}{2ml^2} - 2qlE\cos\varphi $$ từ đây ta tìm được sự phụ thuộc của xung lượng góc (mô-men) vào góc quay: $$ p_\varphi = \sqrt{2ml^2W\left(1 + \frac{2qlE}{W}\cos\varphi\right)} $$

Bất biến đoạn nhiệt pha: \begin{align} I &= \frac{1}{2\pi} \cdot 2\int_0^{\varphi_0} p_\varphi(\varphi) d\varphi \\ &= \frac{\sqrt{2ml^2W}}{\pi}\int_0^{\varphi_0} \sqrt{1 + \frac{2qlE}{W}\cos\varphi} d\varphi \end{align}

Tích phân này không tính được ở dạng tường minh, vì nó được đưa về tích phân elip không đầy đủ loại hai: $$ I = \frac{\sqrt{2ml^2W}}{\pi}\sqrt{1+\epsilon} \cdot \int_0^{2\alpha} \sqrt{1 - k^2\sin^2\alpha} d\alpha $$ trong đó $k^2 = \frac{2\epsilon}{1+\epsilon}$, $\epsilon = \frac{2qlE}{W}$.

Sự phụ thuộc của bất biến vào cường độ trường được "ẩn" trong $\epsilon$.

Quỹ đạo pha của lưỡng cực Ehrenfest
Hình 23: Hình ảnh mô phỏng máy tính về quỹ đạo pha của lưỡng cực khi điện trường thay đổi chiều.

Khi phân tích các thay đổi trong hệ, chúng ta sẽ chỉ hài lòng với hình ảnh máy tính của quỹ đạo pha (Hình 23). Hình ảnh này rất thú vị. Vùng biên độ nhỏ là các dao động khi tắt trường một cách đoạn nhiệt. Tại một thời điểm nào đó, góc lệch trở nên lớn hơn $90^\circ$ và lưỡng cực chuyển sang pha quay. Bất biến đoạn nhiệt bị vi phạm. Giá trị cường độ trường sau khi đi qua điểm không bắt đầu tăng (véc-tơ trường đổi hướng) và lưỡng cực quay trở lại chế độ dao động. Đồng thời, điểm cân bằng của các dao động mới đã dịch chuyển đi một góc $\pi$.

Trong ví dụ mô phỏng này, ở chế độ chuyển động thứ hai, các biên độ dao động đã tăng lên so với chế độ dao động thứ nhất. Nhưng tỷ lệ các biên độ cũng có thể khác (bao gồm cả việc biên độ có thể không thay đổi), vì quá trình thay đổi các vùng pha chuyển động phụ thuộc vào sự đồng bộ hóa thời điểm đổi hướng của trường và pha dao động của lưỡng cực. Rõ ràng là, sự đổi hướng tiếp theo của trường sẽ dẫn đến việc dao động quay trở lại vùng pha đầu tiên.

Bài toán 11. Ống "bí mật" của Ehrenfest (giữ nguyên văn bản của tác giả trong phần phát biểu bài toán)

Một chất điểm không chịu tác dụng của lực, chuyển động qua lại trong một cái ống bịt kín ở cả hai đầu. Giả sử ở giữa ống vô cùng chậm chạp xuất hiện và tăng dần một trường đẩy. Khi đó sẽ đến một thời điểm mà chất điểm với lượng động năng dự trữ của nó không thể vượt qua rào cản này và tiếp tục chuyển động qua lại trong một nửa của ống. Nếu trường lực có những thay đổi biến mất, thì động năng của chuyển động cuối cùng bằng với động năng của chuyển động ban đầu; còn tần số thì tăng gấp đôi, do quãng đường đã giảm đi một nửa. Chuyển động ban đầu đã bị phân rã thành hai nhánh riêng biệt trong quá trình tác động đoạn nhiệt.

Bài toán này là một biến thể phức tạp hơn của bài toán đầu tiên. Chúng ta đã giao phó việc giải nó cho máy tính. Trường đẩy được mô phỏng bằng hàm Gauss với biên độ tăng tuyến tính theo thời gian: $$ U(x,t) = u(t)e^{-\alpha(l-x)^2} $$

Quỹ đạo pha của ống Ehrenfest
Hình 24: Hình ảnh mô phỏng quỹ đạo pha của hạt chuyển động trong ống với rào cản thế năng tăng dần ở giữa.

Chúng tôi đưa ra hình ảnh pha của chuyển động trên máy tính (Hình 24).

Khi phân tích các thay đổi của chuyển động, Ehrenfest không hoàn toàn chính xác. Cho đến thời điểm chuyển mạch (ta gọi như vậy sự thay đổi đột ngột vùng chuyển động của hạt), bất biến đoạn nhiệt được bảo toàn. Tương tác với thế năng đang tăng dẫn đến sự gia tăng năng lượng. Tại một thời điểm nào đó, hạt đã đi vào phần bên phải của ống, nhưng khi quay lại, rào cản thế năng đã tăng lên và kịp thời chặn chuyển động sang phần bên trái. Hạt bị giam giữ ở nửa thứ hai. Trong quá trình chuyển động tiếp theo (sau thời kỳ chuyển tiếp), diện tích pha sẽ lại trở về tính bất biến (nhưng với một giá trị mới).

Bài toán 12. Một lần nữa bất biến đoạn nhiệt và sự vi phạm của nó

Một con lắc lò xo nằm ngang (được luồn trên một thanh nan; Hình 25) thực hiện dao động với biên độ nhỏ $x_0$. Người ta bắt đầu quay con lắc với một gia tốc góc rất nhỏ quanh trục thẳng đứng đi qua điểm cân bằng ban đầu.

Hãy xác định sự phụ thuộc của chu kỳ và biên độ dao động vào vận tốc góc quay của hệ. Hệ số đàn hồi của lò xo là $k$ và khối lượng của quả cầu là $m$ là các đại lượng đã biết. Khối lượng của lò xo được coi bằng không.

Con lắc lò xo quay
Hình 25: Con lắc lò xo quay quanh trục thẳng đứng.

Chuyển sang hệ quy chiếu quay. Trong hệ phi quán tính này, định luật bảo toàn năng lượng sẽ đúng: $$ E = m\frac{x'^2}{2} + k\frac{x^2}{2} - m\omega^2\frac{x^2}{2} $$ hoặc $$ E = m\frac{x'^2}{2} + (k - m\omega^2)\frac{x^2}{2} $$

Công thức có dạng toàn phương, do đó có thể viết phương trình động lực học: $$ mx'' = -(k - m\omega^2)x $$

Sự thay đổi năng lượng khi thay đổi vận tốc góc: $$ \frac{dE}{dt} = mx'x'' + (k - m\omega^2)xx' - mx^2\omega\omega' $$

Hai số hạng đầu tiên, theo phương trình động lực học, bị triệt tiêu. Kết quả là: \begin{align} \frac{dE}{dt} &= -mx^2\omega\omega' \\ dE &= -mx^2\omega d\omega \end{align}

Ta lấy trung bình sự thay đổi năng lượng này trong một chu kỳ dao động, coi dao động là điều hòa và vận tốc góc là một đại lượng không đổi: $$ \Delta E = -m\frac{x_0^2}{2}\omega\Delta\omega $$

Hệ thức vi phân nhận được có thể được viết dưới dạng vi phân tương đối (chia cho năng lượng của hệ $E = (k - m\omega^2)\frac{x_0^2}{2}$ tại thời điểm lệch cực đại, coi các độ gia tăng $\Delta E, \Delta\omega$ là các vi phân): $$ \frac{dE}{E} = -\frac{1}{2}\frac{mx_0^2 \cdot 2}{(k - m\omega^2)x_0^2}\omega d\omega = \frac{1}{2}\frac{-2m\omega d\omega}{(k - m\omega^2)} $$

Sau khi lấy tích phân, ta thu được bất biến: $$ \ln E = \ln\sqrt{k - m\omega^2} + \ln C \rightarrow \frac{E}{\sqrt{k - m\omega^2}} = \text{const} $$

Để xác định sự thay đổi của các thông số dao động, ta cho các bất biến của trạng thái ban đầu và trạng thái cuối bằng nhau: $$ k\frac{x_0^2}{2\sqrt{k}} = (k - m\omega^2)\frac{x^2}{2\sqrt{k - m\omega^2}} $$ từ đây ta nhận được sự phụ thuộc của biên độ dao động vào tốc độ quay: $$ \left(\frac{x}{x_0}\right)^4 = \frac{1}{1 - \left(\frac{\omega}{\Omega}\right)^2} \Rightarrow x = x_0\frac{1}{\left(1 - \left(\frac{\omega}{\Omega}\right)^2\right)^{1/4}} $$ trong đó $\Omega = \sqrt{\frac{k}{m}}$ — tần số dao động riêng của con lắc khi không có chuyển động quay.

Cần lưu ý sự tất yếu của việc "đứt gãy" dao động khi vận tốc góc quay của hệ tiến gần đến tần số dao động riêng của con lắc.

Quỹ đạo pha của con lắc quay
Hình 26: Quỹ đạo pha mô phỏng trên máy tính khi thay đổi tốc độ quay của hệ.

Thật thú vị khi quan sát quỹ đạo pha của dao động (Hình 26). Trên đồ thị trình bày mô phỏng máy tính của quỹ đạo pha khi thay đổi tốc độ quay. Để dễ hình dung, gia tốc góc được chọn không quá nhỏ. Hệ bị phá hủy (quả cầu chạy ra vô cực) sau khoảng 10 dao động. Trên đồ thị, $X$ và $V$ tương ứng là tọa độ và vận tốc của điểm cân bằng, điểm này dịch chuyển khi tốc độ quay thay đổi.

III. Bài toán vận dụng Bất biến đoạn nhiệt

Cuối cùng, một bài toán dành cho những người tò mò và tinh ý:

Bài toán mở

Một mạch dao động lý tưởng đang ở chế độ dao động. Tại một thời điểm nào đó, các bản của tụ điện phẳng bắt đầu được tách ra rất chậm (đoạn nhiệt) cho đến khi tần số dao động thay đổi $n$ lần.

Năng lượng của mạch sẽ thay đổi bao nhiêu lần (và theo hướng nào)?

Lưu ý rằng Einstein sẽ trả lời câu hỏi này ngay lập tức và không cần sự gợi ý của Paul Ehrenfest.